Ở Việt Nam Có Bao Nhiêu Đạo???

2Ba má tôi chỉ thờ cúng Ông Bà chứ không vào đạo nào cả, còn dòng họ tôi theo đạo Phật, năng đi chùa. Riêng tôi, suốt 16 năm tôi chẳng biết Phật cũng chẳng biết Chúa là ai.

Tôi vượt biên chỉ mong cho cuộc sống được sung sướng hơn, chứ chẳng để ý gì vấn đề tôn giáo. Không ngờ cuộc ra đi lại là cuộc gặp gỡ đức tin.

Thuyền tôi lênh đênh trên biển 5 ngày, dập vùi như cát bụi. Lúc đó tôi chỉ biết khóc, chứ biết gì mà cầu nguyện. Sau lưng tôi  là 2 mẹ con dì Ái. Tôi hỏi: “Sao dì không cầu xin Ông Bà giúp cho ghe mình qua khỏi mà dì cứ đọc cái gì vậy?” Tôi rất lấy làm lạ, vì chưa nghe ai cầu nguyện như dì tôi. Tôi chú ý mãi rồi thuộc cả kinh Kính Mừng, Lạy Cha và Sáng Danh.

Tới Palawan vài tuần là tôi đi học giáo lý. Tôi đi học là do sự ép buộc chứ tôi không tin về đạo. Tôi học 4 tháng mà không có gì làm tôi hứng thú. Tôi đi nhà thờ cũng là vì ép buộc.. Một hôm tôi cảm thấy mình không còn niềm tin nữa, tôi nghỉ học 2 tuần, cũng không tới nhà thờ. Mẹ nuôi tôi rất buồn. Thời gian ấy tôi quá sầu muộn, muốn vào chùa để xuống tóc. Về sau nhìn lại những ngày này, tôi thấy khi mới tới đảo, tinh thần tôi chưa được ổn định, nhất là chuyện sứt mẻ giữa tôi và mẹ nuôi, cũng như những người trong nhà. Nhưng những ngày tôi không đến nhà thờ, lòng tôi thấy cái gì buồn bã, bứt rứt trong lương tâm. Dần dần tôi lại muốn đi học giáo lý và đi nhà thờ. Khi muốn học trở lại, tôi lại sợ thầy không cho tôi vào lớp. Mẹ nuôi tôi phải gọi lên nhờ cha can thiệp. Tôi nhận được giấy cha gọi nhưng tôi không lên. Hai giờ chiều hôm ấy, nghe loa gọi tên tôi, tôi mới chịu đi. Khi tôi bước vào phòng, cha chạy lại ôm tôi. Cha chỉ dẫn cho tôi nhiều điều. Bấy giờ tôi mới thấy mình có lỗi.

Trong 7 tháng rưỡi học giáo lý, tôi không thấy Chúa ban cho tôi ơn gì đặc biệt. Khi rửa tội xong, tôi mới cảm thấy ơn Chúa xuống với tôi. Từ ngày được rửa tội, nhà thờ trở nên hình ảnh ấm cúng của lòng tôi. Lời kinh không còn bỡ ngỡ, xa lạ. Tôi thương gia đình và thích cầu nguyện cho gia đình nhiều. Cũng những ngày này, tôi nghe tin hai mẹ con dì tôi đã chết giữa biển, tôi thương cho dì tôi và em tôi vô cùng, vì chưa biết Chúa. Đêm ấy tôi nằm mơ, thấy tôi đến nhà thờ cầu nguyện cho dì. Khi tỉnh dậy, thấy mình đang khóc ở nhà. Lúc ấy tôi càng tin vào Chúa hơn. Tôi biết là tôi có thể cầu nguyện cho dì, mặc dầu dì không có đạo Chúa. Chiều hôm ấy, tôi đi lễ, tôi thấy lòng mình vui hơn khi trước. Lúc rước lễ xuống, tôi muốn cầu nguyện mà tôi chẳng biết cầu nguyện làm sao, tự nhiên tôi nghĩ ra cách cầu nguyện là: Lạy Chúa, xin Chúa dạy con cách cầu nguyện. Sau đó tôi cầu xin Chúa cứu thoát những linh hồn cô đơn, không có ai cầu cho. Tự nhiên tôi nghẹn ngào rồi ứa nước mắt. Tôi cảm nhận là những lời tôi cầu đã thấu đến Chúa. Từ ngày đó tôi không còn lạc lõng lẻ loi, vì tôi đã có người để tâm sự khi tôi buồn…”

Tìm hiểu:

1. Nhân loại luôn thao thức tìm kiếm điều gì?

- Đọc lịch sử, ta thấy nhân loại luôn thao thức kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống, và cái chết của mình.  Người ta tự hỏi: Tại sao tôi sinh ra trên trần gian? Tại sao phải đau khổ? bệnh tật? Tại sao phải chết? Chết rồi sẽ đi đâu? Có Thiên đàng (Paradise) Địa ngục (Hell) như người ta nói không? Có Thượng đế (God) không? Tại sao người ác nhiều khi được sung sướng, còn người lành lại gặp khổ đau? Phải chăng “Trời xanh” không có mắt?

Các triết gia (philosopher) đã cố công tìm ra những câu trả lời cho nỗi băn khoăn của con người, đã lý luận tìm ra đâu là Nguyên nhân Tối cao, đâu là Yếu tố Vô hình điều khiển vũ trụ, nhưng vẫn chưa giúp con người hoàn toàn thoả mãn. Người ta cần đến tôn giáo.

Ý niệm về tôn giáo là ý niệm phổ quát nơi mọi dân tộc, dù man di mọi rợ hay văn minh tân tiến: Người Do thái (Jews) được Thiên Chúa tuyển chọn tỏ mình ra cho biết Danh Ngài là Đấng Tự hữu (Tự mình mà có không ai có trước Ngài). Các dân tộc khác, tùy văn hoá mỗi nơi, tôn thờ nhiều thần minh (gods) khác nhau với nhiều nghi lễ khác nhau: Người Rôma thờ thần Jupiter, người Phenicia thờ thần Baal, người Ba tư (Persian) thờ thần Ánh sáng (Ormuz), người Ấn độ thờ Đấng Chí linh (Bhram), người Tàu thờ Đấng Thượng Đế (God).

Tại Việt Nam xưa kia, người Kinh cũng như người Thượng đều thờ cúng nhiều vị thần khác nhau tùy làng, tùy miền, nhưng trên hết các thần, người Việt vẫn kêu cầu Ông Trời cao Cả mọi nơi mọi lúc.

2. Người Việt nam theo những đạo nào?

- Tại Việt nam có tới 11 đạo khác nhau:

1. Đạo thờ Thần (Idolatry)
2. Đạo thờ Ông bà (Ancestor Worship)
3. Đạo Lão (Taoism)
4. Đạo Khổng (Nho giáo) (Confucianism)
5. Đạo Phật (Buddhism)
6. Đạo Công Giáo (Catholicism)
7. Đạo Thệ phản (Tin Lành: Protestantism)
8. Đạo Cao Đài (Caodaism)
9. Đạo Phật giáo Hoà Hảo (Hoa Hao Buddhism)
10. Đạo Baha’i (Baha’ism)
11. Đạo Hồi (Hồi giáo)

- Đạo Thờ Thần: Thật ra, khó có thể kể hết tên các vị thần linh của người Việt. Trên trời có thần mưa, thần gió, thần sấm, thần sét, thần mặt trời, mặt trăng; dưới đất có thần tử, thần sinh, thần cây đa cây đề; dưới sông có thần Hà bá; trong nhà có Thổ công (Thần đất được thờ trong miếu nhỏ), thần Táo (thờ trong bếp), thần Tài; trong làng có Thành hoàng, Phúc thần… Mỗi nghề nghiệp, mỗi địa phương đều có thần riêng.

Thờ Thần chỉ là những lối tỏ bày niềm tin nơi các Sức mạnh linh thiêng mà người ta tin rằng có quyền che chở và chúc phúc, có ảnh hưởng đến con người từ lúc còn là bào thai trong lòng mẹ tới khi nhắm mắt đi vào lòng đất.

Qua việc tôn thờ này, có những điều mê tín, nhưng cũng có những điều hay. Dù không có quan niệm rõ ràng về sự Sống đời sau, nhưng “Việc thờ thần linh cũng nói lên việc nhớ ơn người trước, nhắc nhớ những gương sáng tiền nhân để lại, và bảo nhau làm điều lành lánh điều dữ”. (Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt nam, quyển thượng trang 192).

- Đạo Thờ Ông bà: Đây không hẳn là một tôn giáo, nhưng chỉ là chuyện gia đình: Con cháu tỏ lòng hiếu thảo biết ơn đối với ông bà tổ tiên khi còn sống cũng như lúc đã qua đời. Xác ông bà được chôn táng ngay trong vườn cạnh nhà. Vong linh (spirit) ông bà coi như đang sống nơi giường thờ. Từ việc tết nhất, cưới hỏi, từng bữa cơm, lúc vui buồn, khi con cháu ốm đau…, ông bà đều được nhớ đến, được khấn vái. Tùy gia đình giầu nghèo, tùy lúc bình thường hay cấp bách. Mâm cúng thường là một mâm cơm, hoặc ít là trầu cau hoa quả. Giữa đêm khuya, cúng một chén nước lã với nén hương. Thời gian cúng là chờ cho tàn một tuần hương, tức là chờ bó nhang cháy lụn, lúc đó kể như ông bà đã dùng của lễ dâng. Sau đó dọn xuống để con cháu cùng nhau hưởng. Con cháu phải lo ăn ở sao cho khỏi mang chữ bất hiếu. Lời cha mẹ dặn văng vẳng bên tai. Dòng máu tổ tiên sôi trong huyết mạch, người con cảm thấy tủi hổ về cách ăn ở của mình nếu đã làm điều bất xứng.

Việc thờ cúng Ông bà nhắc nhớ cho con cháu quí trọng hồn thiêng sống mãi, và gắng sao cho chính mình sau này cũng được mát mẻ dưới “suối vàng” với Tổ tiên.

Tại Việt nam, số người thờ cúng ông bà tổ tiên chiếm số đông nhất trong toàn thể dân số.

Đạo Ông bà có nhắc cho ta sau này sống dưới “Suối vàng” với Ông Bà, nhưng điều đó không có gì là chắc chắn, chỉ là những điều ước ao từ tâm thức con người mong một cõi linh thiêng giải thoát khổ cực đời này.

- Đạo Lão: Vị Sáng lập Đạo Lão là Lão Tử bên Tàu. Đạo có từ 7 thế kỷ trước Chúa Kitô ra đời. Theo tác giả Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong tục: “Lão tử soạn ra bộ Đạo Đức kinh gồm năm nghìn câu nói, chủ ý dạy con người giữ “Cách tự nhiên thanh tĩnh, không cần phải làm gì”. Muôn việc cứ phó mặc tự nhiên, không cần phải lo lắng nghĩ ngợi, mới hưởng được khoái lạc tiêu dao”. Trong nhân loại, người gần Đạo nhất là đứa trẻ hồn nhiên sống vui tươi.

Về phương diện triết lý, Lão Tử cho rằng Đạo là nguyên lý huyền diệu, vô hình, vô sắc, đã sinh ra âm dương trời đất và muôn vật. Muôn vật sinh ra khắp cả thế gian rồi lại quay trở về đạo, để lại hóa ra muôn vật muôn loài, theo cuộc tuần hoàn biến cải thiên nhiên. Đạo Lão không đề cao Thượng đế và không nói tới sự Sống đời sau.

Đạo Lão được truyền vào Việt Nam cùng với việc cai trị của người Trung Hoa. Đã có thời toàn thịnh, ảnh hưởng giới trí thức chán công danh, ưa nhàn du, tiêu dao phóng khoáng; ảnh hưởng giới bình dân ưa chuyện đồng bóng thần tiên huyền ảo.

- Đạo Khổng: Theo một truyền thuyết, Đức Khổng Tử đã lập đạo này vào cuối thế kỷ 6 trước Chúa Kitô.

Tôn chỉ đạo Khổng là xây dựng con người và xã hội qua việc: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.  Để đạt đích trên, con người cần giữ luân lý tam cương (vua-tôi, cha-con, vợ-chồng); nam giới cần có ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín); nữ giới cần có tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh).

Học thuyết căn bản trong đạo Khổng, hay đạo Nho, là tuân theo mệnh Trời (Thiên mệnh). Thiên mệnh hướng dẫn hoạt động của mọi người, không ai thoát khỏi.

Khổng giáo truyền vào Việt nam cùng với việc cai trị của người Trung Hoa và đã gây ảnh hưởng rất lớn trong đời sống và văn chương người Việt từ Vua Chúa tới dân thường, đã có thời trở thành quốc giáo.

Đạo Khổng tuy đề cao Trời, nhưng không nói tới Sự Sống đời sau. Đức Khổng chỉ nói:”Khi chết, phách con người trở về với đất, khí con người bay lên không trung”.

- Đạo Phật: Phật tổ tên là Gautama Shidata, con vua nước Ấn độ, sinh năm 563 trước Chúa Kitô. Năm 29 tuổi, Người đi thăm dân chúng ở kinh thành, gặp nhiều cảnh khổ của dân, Người quyết định rời cung điện đi tìm đường giải thoát. Sau thời gian tu luyện, năm 35 tuổi, Người đã tự giác ngộ, tìm được đường giải thoát khi đang suy niệm cạnh cây bồ đề trong một đêm trăng tròn tháng Năm dương lịch. Do đó, Người được gọi là Buddha (Bụt, Phật).

Đạo Phật chủ trương “giải thoát con người”. Theo Đức Phật: Đời là bể khổ, sinh khổ, bệnh khổ, già khổ, chết khổ. Mà nguồn gốc của khổ là lòng tham muốn. Vậy muốn khỏi khổ phải diệt lòng tham muốn. Khi đã diệt được lòng tham muốn rồi, con người sẽ được giải thoát.

Về niềm tin: Mỗi người có nhiều Kiếp (đời). Từ kiếp này Đầu thai (reincarnate) qua kiếp khác gọi là Luân hồi (xoay vần như bánh xe không ngừng). Tin Nhân-Quả: Cái Nghiệp (Karma: phận việc) ta chịu ở kiếp này sinh từ cái Quả ta đã làm ở kiếp trước, và Nghiệp ta làm ở kiếp này là cái Nhân của ta ở kiếp sau. Nghiệp báo cứ luân hồi mãi cho tới khi giải thoát xong mà được về Niết bàn (nơi hư không). (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Tự Điển trang 199 Phần III).

Về luân lý:  Dạy giữ ngũ giới: Cấm sát sinh, cấm trộm cướp, cấm gian dâm, cấm nói dối, cấm rượu thịt.

Đạo Phật không dạy tin có Thượng đế. Trên con đường giải thoát, người ta tùy sức mình, không cần ai hay thần thánh nào cả. Sau khi qua các vòng luân hồi, con người được lên cõi Niết bàn. Trong kiếp người, con người có thể tự hủy mạng mình, tức tự thiêu.

Đạo Phật vào Việt Nam khi người Trung Hoa sang đô hộ từ thế kỷ II. Đã có những thời kỳ rất thịnh đến trở thành quốc giáo và ảnh hưởng rất nhiều trong dân gian cũng như trong văn học (theo Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử, quyển II, trang 126).

Phải chăng Đức Phật thấy trước Đức Kitô sẽ ra đời khi Người nói với Ananda: “Ta không phải là Đức Phật đầu tiên giáng thế, mà cũng không phải là Đức Phật cuối cùng. Lúc cần đến, sẽ có một Đức Phật khác xuất hiện trên thế giới, một vị chí tôn, chí tuệ, hành vi đạo đức, đem lại điềm lành, biết rõ vũ trụ, một vị lãnh đạo vô song của loài người, một vị chúa tể của thiên thần và thế nhân, Đức Phật ấy sẽ dạy những chân lý bất diệt” (Trịnh Văn Thanh, Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển, Xuân Thu xuất bản, trang 334).

Đạo Phật có nói tới Niết bàn, nhưng Niết bàn chỉ là cõi hư không, không còn đau khổ. Niết bàn Phật giáo không có gì là tích cực, không phải là sự Sống đời đời như con người ước mơ, bù vào những hy sinh đời này.

-  Đạo Tin lành: Gọi đúng ra là đạo Thệ phản (Protest). Đạo Tin lành phát xuất từ Đạo Công giáo.

Theo lịch sử, Ông Lutherô, một linh mục Công giáo người nước Đức (Germany), năm 1517 đã phản đối giáo huấn của Giáo hội Công giáo về các vấn đề Ân xá, Bí tích, lời khấn hứa…, phủ nhận quyền lãnh đạo tối cao của Đức Giáo hoàng Rôma.

Mười hai năm sau khi tuyên thệ phản đối, ông và đồng bạn đã tuyên bố tách rời Giáo hội Công giáo Rôma, lập giáo phái mới. Lấy Tin Lành Phúc âm làm sách kinh hướng dẫn đời sống đạo. Do đó gọi là đạo Tin lành.

Ông chủ trương người ta nên công chính (justification) bằng đức tin của mình, công nghiệp của cá nhân không ích gì cho phần rỗi linh hồn. (Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Sài gòn 1972, II trang 9).

Vì không có thủ lãnh tối cao, đạo Tin lành sau đã lan ra thành nhiều phái khác nhau.

Đạo Tin lành vào Việt Nam thời người Pháp qua đặt nền đô hộ tại Nam Kỳ. Năm 1911 người Tin lành Mỹ tới mở trường dạy Thánh Kinh và huấn luyện nhà truyền giáo. (Lm. Phan Phát Huồn, Việt nam Giáo sử, II, Sài gòn 1962, trang 195).

Ông Lutherô chủ trương thuyết Tiền định (Predestination), theo đó, sự sống đời đời của mỗi người đã được Thiên Chúa định sẵn, cho dù con người có cố gắng cũng vô ích. Thật ra trong Kinh Thánh, Chúa nói rõ trong sách Khải huyền chương 22, câu 12 như sau:”Họ sẽ được trả công tùy theo việc họ làm (22, 12).

- Đạo Cao Đài: Người thành lập đạo Cao đài là ông Ngô văn Chiêu quê tại Bình Tây Chợ lớn, cùng với nhóm trí thức hay cầu cơ ở Sàigòn.

Mục đích đạo Cao đài (đài đấng Tối cao) là nhắc cho mọi người bổn phận với mình, với gia đình, với xã hội và với thế giới. Đạo khuyên con người từ bỏ danh vọng, xa hoa trần thế để tìm an bình cho tâm hồn.

Đạo Cao đài xuất hiện vào năm 1926. Trụ sở trung ương, tức Toà thánh đặt tại Tỉnh Tây Ninh, Nam Việt.

Đạo Cao đài là tổng hợp các đạo Khổng, Lão, Phật và Công giáo. Đạo này nhận có linh hồn bất diệt và luân hồi. Đạo lấy Con Mắt (Thiên nhãn) là biểu hiệu sự sáng suốt của Đấng Chí Tôn. Cầu Cơ là lối duy nhất để hỏi ý Người và các Tiên thánh trong việc hành đạo.

Tín đồ phải giữ chay từ 2 tới 10 ngày một tháng, tùy là thượng thừa hay hạ thừa. Cầu nguyện hằng ngày lúc sáng, trưa, chiều và 12 giờ khuya.

Đạo Cao đài cũng không chủ trương rõ rệt về sự Sống đời đời, là nơi hạnh phúc trường kỳ.

- Đạo Phật giáo Hoà hảo:  Do Đức Huỳnh phú Sổ người làng Hoà Hảo tỉnh Long Xuyên, Nam Việt sáng lập năm 1939. Phật giáo Hoà hảo  chọn màu dà (màu nâu nhạt) là màu tổng hợp các mầu, tượng trưng sự hợp nhất các chủng tộc.

Đạo Phật giáo Hòa hảo khuyên người đời thực hiện Tứ đại ân: Đền ơn cha mẹ, đất nước, Phật Pháp Tăng, đồng bào nhân loại.

Đạo dạy tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Giữ bát chánh (kiến, tư duy, nghiệp, tín, tấn, mạng, niệm, định) (theo Trịnh văn Thanh, Thành ngữ điển tích Danh nhân Từ điển).

Vì ảnh hưởng của Phật giáo, nên chủ trương về sự Sống đời sau cũng giống như Phật giáo, tức là cõi Niết bàn.

- Đạo Baha’i: Phát sinh từ Islam (Hồi giáo), nước Ba tư năm 1844, là năm ông Ali Muhammad xưng mình là Bab (cửa ngõ). Ông chủ trương thống nhất các tôn giáo trên thế giới, chờ Chúa giáng lâm (lại xuống vào thời tận thế). Thống nhất để chỉ có một Thượng đế, một giáo chủ, một thứ tiếng, một tòa án quốc tế.

Hiện có tới 6 triệu tín đồ trong 200 quốc gia. Ông tổ và nhiều người đạo này bị người đạo Hồi giết hại, vì họ không muốn Bahai bành trướng.

Đạo Bahai tin Thượng đế siêu việt, không thể hiểu. Nhưng Thượng đế đã sai xuống trần nhiều tiên tri từ Abraham Phật, Giêsu, tới Bab. Không có giáo sĩ, Bí tích hoặc  nghi lễ. Cầu nguyện hằng ngày,  giữ 9 ngày lễ, chay 19 ngày trong năm, không uống rượu, hoặc hút xách, coi công việc như hành vi thờ phượng, nếu có thể viếng Thủ đô đặt tại Haifa, Israel một lần trong đời.

Đạo Baha’i vào Việt nam năm 1934.

Đạo Bahai không chủ trương rõ rệt về sự Sống đời sau.

- Đạo Hồi (Hồi giáo – Islamism): Do ông Mahômet thành lập khoảng năm 622. Ông là dòng dòi Ismael, con tổ phụ Abraham. Năm 40 tuổi, ông tự xưng là tông đồ và ngôn sứ (prophet) của Thiên Chúa, được ơn mạc khải (revelation) và được sai đến để cải cách tôn giáo, xã hội. Nhờ đọc Kinh Thánh của Công giáo, ông đã viết sách Quran coi như Kinh thánh của đạo ông và truyền lại cho dân Ả rập.

Bổn phận của người Hồi, coi như 5 cột tru:

1. Đọc kinh Tin kính (Không có Thiên Chúa nào khác, trừ ra Thiên Chúa và Mahomet là tiên tri của Người), nhiều người đọc hằng ngày.

2. Cầu nguyện mỗi ngày 5 lần (sáng, trưa, sau trưa, sau mặt trời lặn, trước đi ngủ), quay mặt về Thủ đô Mecca mà đọc.

3. Đóng thuế 2,5% cho quĩ bác ái.

4. Ăn chay trong tháng Mahomet nhận kinh Quran từ Allah.

5. Nếu có thể, hành hương Mecca một lần trong đời.

- Hồi giáo tin vào một Thiên Chúa quyền phép, và thương xót, công bằng, Mahomet là đại tiên tri cuối cùng của Thượng đế.. Tin có Satan, có thiên đàng, hỏa ngục, nhưng thiên đàng có thỏa mãn xác và hồn.. Kiêng rượu, xì ke, cờ bạc, cấm thịt heo, cấm kỳ thị màu da. Về hôn phối, đàn ông được lấy 4 vợ chính và một số nàng hầu vô định. Trong gia đình, người đàn ông có toàn quyền sinh sát.

Về sự sống đời sau, Hồi giáo chủ trương: Ai không có đức tin sẽ phải sa hỏa ngục, ai có đức tin sẽ được lên thiên đàng. Thiên đàng của Hồi giáo nặng về thú vui thể xác như được hưởng rượu ngon, thịt béo, mỹ nhân…

Hồi giáo Việt Nam thuộc khối Á châu phần lớn do người Việt gốc Chàm tin theo.

Nguồn: dunglac.org

About these ads

One Response

  1. tai sao co cho hieu ro ve cac dao ma lai bo qua dao cong giao khong cho biet khong tu do ton giao gi het

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: