THÁNH GIUSE, CÀNH HUỆ TRẮNG

Nhìn ngắm Thánh Cả Giuse, ai trong chúng ta cũng nhận ra cành huệ trắng trên tay Ngài cầm. Cành huệ trắng biểu trưng cho tâm hồn thanh sạch được tôn phong cho Ngài với những ý nghĩa mà chúng ta có thể chia sẻ trong bài viết này.

Biểu tượng tâm hồn thanh sạch:

Một cõi lòng trong, một tâm hồn thanh khiết, nói đến một con người toàn vẹn, vì “mọi sự xấu đều từ trong lòng mà ra” (Mc 7, 15). Thanh sạch là điều kiện tiên quyết của một con người đụng chạm đến việc thánh thiêng. Các nền văn hoá xưa gắn liền việc thanh sạch với tế tự, điều này đòi hỏi không chỉ dựa trên đời sống luân lý mà còn xuất phát từ chính yếu của đòi hỏi tế tự. Thánh Giuse được trao ban một đặc ân vượt trội, chính Ngài được tuyển chọn trở thành người tư tế dâng chính cuộc đời của mình làm của lễ dâng lên Thiên Chúa.


Đời sống dâng hiến xuất phát từ tâm hồn thanh sạch của Ngài để bảo đảm cho gia đình Nazareth toàn vẹn, Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Chúa Giêsu Đấng rất Thánh Con Thiên Chúa. Hằng ngày, luôn gần với sự thánh thiêng, cuộc đời của Thánh Giuse cũng luôn đòi hỏi thanh sạch, như là một điều kiện và trong điều kiện này chúng ta có thể bắt gặp một trong những nỗ lực thánh hiến của Ngài để học sống theo Ngài. Trước tiên cần kể đến, Thánh Giuse là một con người ở giữa chúng ta, là một con người nghĩa là cũng có nhiều cám dỗ vây quanh như chúng ta. Thánh Giuse sống thánh thiện không duy chỉ do ý chí của Ngài mà còn nhờ vào việc kết hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Phúc Âm không nói nhiều về Thánh Giuse nhưng trong sự kiện lắng nghe tiếng Chúa để đón Maria về làm vợ thì đã toát yếu lên cả cuộc đời của Ngài chọn lựa theo Ý Thiên Chúa. Để tâm hồn trong trắng là lắng nghe ý muốn của Thiên Chúa và thi hành điều Thiên Chúa muốn. Không hề có sự vẩn đục nào có thể vào trong ý muốn lành thánh của Thiên Chúa được, bởi vậy tư tưởng loài người khác hẳn với tư tưởng của Thiên Chúa. Điều thứ hai có thể học nơi Thánh Giuse để giữ tấm lòng thanh sạch là xa lánh các điều dơ bẩn, đó là nỗ lực của chính bản thân. Bà Sara giữ mình thanh khiết khi nhiều người lao vào trong tội (Tb 3, 14), giữ mình là một cộng tác của con người với ân sủng của Thiên Chúa, Thánh Giuse cũng thế Ngài giữ mình khỏi những điều xấu xa. Phục vụ gia đình Thánh cần có con người Thánh, con người Thánh ấy chính là bậc cha mẹ, người có trách niệm cai quản cộng đoàn. Thánh Thiện không đến từ con người mà đến từ Thiên Chúa, con người Thánh là con người kết hợp thâm sâu với Chúa bằng tất cả nội lực của mình để thể hiện: “Yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết cả trí khôn”. Người thanh sạch cần thiết cho một gia đình thánh biết bao vì chính chúng ta được mời gọi phục vụ gia đình thánh trong Bí tích Hôn Nhân.

Thanh Sạch biểu lộ vẻ đẹp siêu phàm:

Diễm tình ca ca ngợi một vẻ đẹp của hoa huệ giữa bụi gai và sánh ví vẻ đẹp trên hết mọi vẻ đẹp: “Em là đoá thủy tiên của Sa-rôn đồng bằng, là bông huệ thắm hồng trong thung lũng. – Bạn tình tôi giữa đoàn thiếu nữ có khác gì cánh huệ giữa bụi gai”. (Dc 2,1). Tâm hồn trong sạch không những chỉ cần thiết cho mình mà còn cần thiết cho người khác, để còn là hương tinh khiết giữa hôi tanh bụi trần, để còn là huệ trắng giữa bụi gai, và còn là màu trắng giữa những màu nhem nhúa. Ca ngợi vẻ đẹp của tấm lòng thanh giữa cõi lòng tục, người Việt Nam sánh ví vẻ đẹp và hương hoa ấy qua hình ảnh: “Trong đầm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng, nhị vàng bông trắng lá xanh, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nét đẹp không những chỉ nổi lên giữa đầm lầy mà còn là che khuất mùi tanh của bùn lầy. Trong sạch là một mối quan tâm đặc biệt để còn lại cho đời những hương thơm, chính vì vậy mà người Việt luôn khuyên nhủ con cháu: “giấy rách phải giữ lấy lề”, xa cách những lối sống làm bẩn đi tâm hồn thanh khiết: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” và thường nhắn nhủ theo gương cách sống của tiền nhân “lui quan tìm về chỗ thanh”. Thanh sạch nghĩa là giũ bỏ những gì có thể làm nhơ uế tâm hồn, nghĩa là chấp nhận vai trò hy sinh để sống thanh khiết. Bao nhiêu cái có ở đời chẳng bằng chữ thanh. Thánh Giuse gương mẫu cho chúng ta về lòng thanh sạch, bởi Ngài đã từng ở tuổi thanh niên như chúng ta, từng ở cạnh người đẹp như chúng ta, Ngài bảo vệ thanh danh cho người phụ nữ, tôn trọng phẩm giá của người nữ và bảo vệ cho phẩm giá đó bằng nguyện một đời giữ tấm lòng trong. Có lẽ cần lại nói một lần nữa về lời dạy của Chúa Giêsu: “Cái xấu từ trong lòng người mà ra”, để nhấn mạnh lại rằng tấm lòng thanh sẽ nhìn thấy tất cả lả ân huệ Chúa ban, thấy tất cả mọi người đều là hình ảnh đáng quý trọng của Thiên Chúa và cũng là một động cơ thúc đẩy nỗ lực thăng tiến phẩm giá con người. Cái siêu phàm được thực hiện trong cõi thường phàm, nên không thể nói, không thực hiện được mà cần nên nói, thực hiện được để siêu nhiên được thực hiện trên tự nhiên. Thanh sạch ngày hôm nay giữa chúng ta xem như một điều xa xỉ, nhưng thực tế nếu không còn thanh sạch cõi trần này sẽ ngập tràn rác rưởi, hôi tanh. Chúng ta cứ thử xem thế giới đang cần gì: một môi trường xanh, một sinh thái tự nhiên, một bầu khí trong lành không ô nhiễm và cũng cần đến những cõi lòng thanh để xây dựng một thế gới hoà bình thật sự.

Thanh sạch biểu lộ tâm tình phó thác:

“Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6, 28). Bàn về chữ “nhàn” trong văn hoá, người ta gặp thấy lối chiết tự của người Trung Hoa là ý nghĩa: “Thị tại môn tiền náo / Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa sau thì “nhàn”! qua cách viết chữ tượng hình của Trung Hoa: giữa chữ môn mà có chữ thị thì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn!”. Nhàn ở đây là tâm trạng có được khi tịnh tâm sau khi hoàn thành công việc. Chúa Giêsu thường hay tìm nơi thanh vắng cầu nguyện khi Ngài hoàn tất công việc một ngày. Bí quyết của sống nhàn là bí quyết của đời sống phó dâng: “Lo gì ngày mai mai sẽ lo”. Sống nhàn là để thở hít bấu khí của tâm hồn làm cho thanh thoát. Nhàn không có nghĩa là rỗi, nhàn mang tính hoàn toàn phó thác hết sau khi đã tận lực: “Làm việc như thể mọi sự tuỳ thuộc vào mình và trông cậy như thể mọi sự tuỳ thuộc vào Thiên Chúa”. Phó thác không phải là ỷ lại nhưng là biết mình có giới hạn, nhận ra mình trong con người khiêm hạ, biết rằng mình có được đều là hồng ân Thiên chúa. Nhàn không có nghĩa ở không mà nhàn có nghĩa là dành thời gian nuôi sống tâm linh. Hãy nhìn ngắm xem bông huệ, đó là một lời mời gọi cuộc sống giản đơn không cồng kềnh phức tạp, Trần Nhân Tông trong bài ca (Đắc thủ lâm tuyền Thánh Đạo Ca) ghi rằng:

“Công danh chẳng chuộng,

Phú quý chẳng màng,

Tần Hán xưa nay,

Xem đà nhàn hạ…

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim”

Chữ nhàn ở đây chỉ về cuộc đời của người trút bỏ hết mọi sang giàu, của cải vật chất để sống cuộc đời tâm linh chỉ mong siêu thoát: Trong tâm tình Kitô giáo chúng ta gặp “Sống giữa trần mà chẳng thuộc về trần”, trong lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu trước khi rời bỏ trần thế: ”Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật” (Ga 17, 14 – 17). Phúc âm không trình bày việc ra đi của Thánh Giuse, đó phải chăng cũng là một ngụ ý “Sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian” là con người bất tử trong sự sống của mình khi đạt đến mức độ đời sống thanh cao.

Là con người giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, như cách sánh ví huệ trắng giữa bụi gai, sen giữa bùn lầy… Thánh Giuse, Ngài đi trọn con đường của Chúa Giêsu “con tự hiến thánh con để họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19), con đường nên thánh cho mọi người, chính vì vậy nhờ công nghiệp của Ngài chúng ta cũng nguyện Thánh Giuse giúp chúng ta đi trên con đường của Chúa: Biết sống vui, sống thánh, sống phó thác, sống khiêm hạ.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Gui boi : Valentino

Advertisements

7 Responses

  1. THÁNH GIUSE – SỰ THINH LẶNG…

    § GM Bùi Tuần

    Đọc Phúc Âm để tìm hiểu thánh Giuse, tôi thấy một bầu khí âm thầm bao phủ Ngài. Có một chọn lựa khiêm nhường trong bầu khí đó. Khiêm nhường ấy đầy khó nghèo và khôn ngoan.

    Ngắm nhìn các ảnh tượng thánh Giuse, tôi thấy lòng sùng kính các nơi dành cho thánh Giuse thực rất phong phú và đa dạng.

    Nhưng năng lui tới thánh Giuse trong đời sống hằng ngày, nhất là qua các giờ phút cầu nguyện, gẫm suy, tôi thấy thánh Giuse rất gần gũi, rất sống động, nhất là rất dễ thương. Có một điểm dễ thương nơi Ngài đã gây ấn tượng sâu sắc nơi tôi, đó là sự thinh lặng của Ngài.

    Sự thinh lặng của Ngài là trường dạy tôi về tu đức, mục vụ và truyền giáo. Tôi gọi đây là sự thinh lặng thánh.

    Bởi vì không phải thinh lặng nào cũng tốt cả. Ai cũng biết có vô số thứ thinh lặng tiêu cực. Như thinh lặng vì kiêu căng. Thinh lặng vì lập dị. Thinh lặng vì dốt nát. Thinh lặng vì sợ sệt. Thinh lặng vì bất cần. Thinh lặng vì dửng dưng. Thinh lặng vì hờn giận. Thinh lặng vì ích kỷ vv…

    Trái lại, sự thinh lặng của thánh Giuse là một hoạt động thường xuyên tích cực.

    1. Trước hết sự thinh lặng của thánh Giuse tích cực ở chỗ Ngài luôn vâng phục đức tin.

    Ngài tin con trẻ mà thiên thần báo mộng sẽ sinh ra bởi Đức Maria, đúng thực là “Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Cho dù gặp muôn vàn thử thách, Ngài vẫn vững tin: Đấng Thiên Chúa ở cùng chúng ta đó chính là Con Thiên Chúa giáng trần. Con trẻ đó chính là Đấng cứu thế.

    Ngài tin Thiên Chúa thương yêu Ngài một cách hết sức đặc biệt. Ngài biết tình thương đặc biệt Chúa dành cho Ngài là hoàn toàn nhưng không, chứ không phải do công phúc nào của Ngài.

    Ngài tin vào sứ vụ Chúa trao phó cho Ngài là vô cùng lớn lao. Sứ vụ đó là bảo vệ Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Ngài biết Chúa Giêsu sẽ làm chuyện lớn, nhưng bề ngoài chưa thấy có gì là lớn. Thực nhiệm mầu. Ngài chỉ biết tin. Ngài chưa hiểu hết. Nhưng không thắc mắc. Một sự kín đáo trong niềm tin đầy khiêm tốn, với nhận thức sâu sắc về tình trạng khó nghèo, bất xứng của mình, đó là một sự thinh lặng đáng kính phục.

    Bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu trong hoàn cảnh thời đó nơi đó đầy khó khăn là một trách nhiệm rất nặng nề, đòi nhiều khôn ngoan sáng suốt và đức tin vững vàng. Ngài đã tin vững vàng và khôn ngoan sáng suốt trong thinh lặng. Thinh lặng đó không phải vì sợ. Nhưng vì vâng phục đức tin.

    Tin Mừng là một mầu nhiệm “vốn được giữ kín từ ngàn xưa” (Rm 16,25) sẽ được biểu lộ, sẽ được thông báo cách nào, lúc nào, bởi ai, cho ai, thì phải tuỳ ở Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí mà thôi. Chúa muốn như vậy (Rm 16,27).

    Tôi thiết nghĩ thánh Giuse đã có đức tin như thế, và đã vâng phục đức tin đó. Vì thế mà Ngài khiêm tốn thinh lặng, Ngài tin rằng: Sứ mạng Chúa trao cho Ngài không phải là loan báo, mà là bảo vệ và giữ kín.

    2. Ngoài ra, sự thinh lặng của thánh Giuse là rất tích cực ở chỗ Ngài được âm thầm đào tạo để có một sự tự do mới.

    Đọc Sách Thánh và chuyện các thánh, tôi thấy Thiên Chúa có một lối đào tạo độc đáo đối với các người của Ngài. Khi Thiên Chúa tính chuyện trao cho ai một sứ mệnh khó khăn, Ngài thường đưa họ vào sa mạc. Hoặc sa mạc địa lý là nơi vốn thanh vắng. Hoặc sa mạc tâm hồn là nơi phải thinh lặng.

    Ông Môisen vào sa mạc Madian.
    Thánh Gioan tiền hô vào sa mạc Giuđê.
    Thánh Phaolô vào sa mạc Syria.
    Thánh Benedictô lên núi Subiacô.
    Thánh Phanxicô khó khăn vào hang Assisi.
    Chính Chúa Giêsu vào sa mạc 40 đêm ngày.

    Đối với thánh Giuse, sa mạc là tâm hồn thinh lặng của Ngài. Trong sự thinh lặng của sa mạc tâm hồn, Chúa đào tạo cho Ngài có một sự tự do mới. Đó là một sự tự do biết chọn Chúa là tất cả, chọn ý Chúa là trên hết. Một sự tự do sẵn sàng dứt bỏ ý riêng, để mau lẹ thực thi ý Chúa.

    Đọc Phúc Âm, tôi gặp thấy một cách nói hay được dùng, khi thuật lại việc phục vụ của thánh Giuse, để vâng phục ý Chúa. Cách nói đó là sẵn sàng và mau lẹ.

    Ngài sẵn sàng đón Maria về nhà mình (Mt 1,24). Ngài mau lẹ đang đêm, đưa Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập (Mt 2,14). Ngài liền vội vã chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Ngài về đất Israel (Mt 2,21).

    Những thái độ đó, được sự thinh lặng đào tạo, chứng tỏ thánh Giuse có một tâm hồn rất tự do. Không phải tự do đối với của cải và ý riêng, mà là tự do cho Chúa và cho những việc Chúa muốn.

    Tôi có cảm tưởng là Chúa đôi khi cũng muốn bản thân tôi và những người thuộc về Ngài, phải bắt chước thánh Giuse xưa, có lúc phải vào sa mạc mà tế lễ Chúa. Tế lễ trong sa mạc là tế lễ trong tình trạng rất thiếu thốn: Không có nhà thờ, bàn thờ, đồ thờ. Không có những trang trọng vật chất. Không có cả những nhân đức cần có. Chỉ còn tập trung vào một mình Chúa đầy tình yêu thương xót. Chỉ còn chính bản thân mình là của lễ mà thôi. Thiếu tất cả, nhưng được tất cả. Chỉ còn thinh lặng tôn thờ và vâng phục với lửa thiêng của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mình như tia hy vọng. Sẽ rất nghèo, nhưng cũng rất vui mừng. Vì thấy mình được thông công vào việc Chúa cứu độ.

    3. Sau cùng, tôi thấy thinh lặng của thánh Giuse là rất tích cực trong sự hiện diện phong phú của Ngài giữa đời.

    Kinh nghiệm cho thấy: Nhiều khi sự hiện diện thinh lặng vẫn có sức gây được cảm tưởng tốt về Tin Mừng, hơn một sự hiện diện nhiều lời. Nhất là khi sự hiện diện đó có Chúa ở cùng. Tôi có cảm tưởng là thời nay tại Việt Nam này, dân chúng vẫn trân trọng và khát khao những người, tuy không nói, nhưng toả ra được ánh sáng tâm linh, lửa thiêng tâm hồn, hương thơm từ những giá trị nội tâm. Họ thinh lặng nhưng có chiều sâu tâm hồn, biết phân định, biết phấn đấu, biết sắp xếp, biết thanh luyện, biết ý tứ, biết tế nhị.

    Điều đó không có nghĩa là thinh lặng luôn luôn có giá trị hơn nói. Tôi thiết nghĩ chọn thinh lặng hay chọn nói là một chọn lựa tuỳ ơn gọi. Các ơn gọi và các ơn thánh rất khác nhau. Con đường tốt hơn ta nên chọn là con đường mà sứ vụ Chúa trao cho ta, con đường mà hoàn cảnh chỉ cho ta, con đường mà ta thấy thích hợp cho tính tình và khả năng của ta, con đường mà ta cho rằng có thể thực hiện tốt hơn việc mến Chúa yêu người trong những hoàn cảnh cụ thể, đúng với yêu cầu của thời điểm.

    Riêng tôi, trong năm Mân Côi này, tôi xin thánh Giuse cho tôi và mọi người chúng ta
    – biết thinh lặng hơn để nghe ý Chúa,
    – biết thinh lặng hơn để suy niệm các mầu nhiệm Mân Côi,
    – biết thinh lặng hơn để đón nhận ơn cứu độ,
    – biết thinh lặng hơn để cộng tác vào chương trình cứu độ,
    – biết thinh lặng hơn để khám phá ra những kỳ diệu Chúa Thánh Thần đang làm trong các linh hồn,
    – biết thinh lặng hơn, để đón nhận những bất ngờ Chúa gởi đến với đức tin sáng suốt.

    Hình như nhiều linh hồn đang được ơn ấy. Họ là những người đơn sơ tỉnh thức và thinh lặng như thánh Giuse. Họ đang thinh lặng gieo rắc hạt giống Tin Mừng giữa xã hội Việt Nam hôm nay.

  2. Thánh Giuse, Người Công Chính
    VietCatholic News (03 Mar 2010 05:34)
    Người công chính, là người cần thiết để xây dựng công bằng và chân lý, tình yêu trên thế giới. Những đức tính của người công chính không những điểm tô nhân cách của mình còn là một bảo đảm cho hậu duệ và thành trì vững chắc bảo vệ an bình, đồng thời là nền móng cho thế giới không bị lay chuyển.

    Thánh Giuse được giới thiệu là Đấng Công Chính, dựa trên những nét tiêu biểu.

    Công bằng, vị tha, tình yêu.

    Công bằng:

    Công bằng không chỉ là trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó, theo cách hiểu của cụm từ “dare cuique suum” mà còn là thái độ trách nhiệm sống tình yêu với người khác.

    Đối với Thánh Giuse, được Thánh Kinh giới thiệu là bác thợ mộc. Thời đó gọi là thợ mộc bao gồm cả những người sửa chữa vặt những đồ dùng trong gia đình bị hư gãy. Thánh Giuse chấp nhận là một người thợ sửa chữa vụn vặt ấy. Vấn đề không thuộc về tay nghề cao thấp, xứng với đồng lương lãnh. Vấn đề nghề nghiệp của Thánh Giuse lựa chọn là phục vụ những con người nghèo trong xã hội, chính họ chứ không ai khác phải sửa chữa những gì vặt vãnh, nếu giàu có họ đã thay thế cái hư thành cái tốt hơn. Xã hội của những người nghèo chỉ đủ trả cho những người thợ chấp nhận nghèo như họ để làm những công việc nhiều hơn đồng lương được lãnh. Sống nghèo với người nghèo là tái lập sự công bằng giữa những người nghèo đang chịu sự bóc lột bởi giới giàu có. Đó là lối sống lên tiếng mời gọi trả lại công bằng cho mọi người được sống, không phải để hưởng những gì mình có mà trả lại đúng nghĩa công bằng cho mọi phẩm giá của con người được tôn trọng. Không giống như những trào lưu của những cao bồi nghĩa hiệp được người ta ca tụng, chiếm lấy của người giàu để chia cho người nghèo. Sống công bằng theo Thánh Giuse là cách lựa chọn sống nghèo để thông chia với người nghèo trong những khả năng đã được nhận lãnh, thể hiện đời sống Tin Mừng một cách trung thành: “Anh em đã nhận một cách nhưng không hãy cho đi một cách nhưng không” (Mt 10, 8).

    Thánh Giuse trong cách sống công bằng, chấp nhận cuộc sống đơn nghèo của mình để sẻ chia. Có thể thấy trong đời sống tự nguyện nghèo khó, một tâm hồn đã tôi luyện khỏi những ích kỷ, cái tôi, biện luận cho lối sống gây bất công. Cội rễ của bất công nằm trong tâm khảm của mỗi người khi “muốn ở trên và đối kháng với người khác” (Sứ Điệp Mùa Chay 2010, Benedicto XVI). Đón nhận tự nguyện đời sống nghèo khó để cùng với người nghèo khó xây dựng đời sống bảo vệ cho phẩm giá cao quý của con người, đó là chứng nhân cho công bằng giữa những bất công.

    Vị tha:

    Ra khỏi cái tôi để hướng về người khác vì họ là “hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 27). Trước hết để tách mình ra khỏi cái tôi “ích kỷ”, là hướng về Thiên Chúa, chỉ khi quy hướng về Thiên Chúa mới có thể thắng được cái tôi của mình. Ra khỏi là biến cố xuất hành của từng cá nhân, nghe Lời của Thiên Chúa ra khỏi chính mình và để thực hiện đời mình theo ý Chúa.

    Thánh Giuse cho thấy điểm quan trọng đó trong đời sống ra khỏi chính mình mà Thánh Kinh thuật lại: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1, 19 – 21). Quy chiếu cuộc đời của mình với ý muốn của Thiên Chúa, dẹp bỏ những dự định ước mơ của mình để ý muốn Thiên Chúa thực hiện. Ý muốn của Thiên Chúa bao giờ cũng là ý muốn hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại. Được xưng tụng là công chính, bởi vì Thánh Giuse đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đâng hoàn hảo” (Mt 5, 48), bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

    Có ra khỏi chính mình quy hướng về Thiên Chúa mới có thể là tác nhân xây dựng công bằng trên trái đất được. Cụ thể ý muốn của Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô. Nghe Lời Chúa và đem ra thực hành là ra khỏi chính mình, để có được đặt ở trên người khác thì cũng có cách thi hành: “trở thành người phục vụ” (Mt 23, 11), loại trừ được tính đối kháng mà sống với nhau như anh chị em con một Cha trên trời.

    Thánh Giuse, trong đời sống phục vụ chẳng thấy một lời lẽ nào được ghi lại. Phục vụ không phải là để tên tuổi mình được rạng danh mà để Danh Thiên Chúa hiển trị. Đó là mẫu gương đích thực cho đời sống phục vụ trong khiêm tốn và trong tình yêu.

    Tình Yêu:

    Đón nhận ý muốn của Thiên Chúa để thực hiện trong cuộc đời mình là thực hiện đời sống trong Tình Yêu.

    Thánh Giuse, đón nhận ý muốn Thiên Chúa nhờ mặc khải về con trẻ sẽ được đặt tên là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa cứu độ dân Người. Đón nhận nên như khí cụ Thiên Chúa dùng thực thi công trình cứu độ. Thánh Giuse cũng như những người Do Thái mộ mến Thiên Chúa khác đã hiểu cụ thể rằng: Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa giải thoát. Điều đó Chúa đã thực hiện với dân của Người khi đưa họ ra khỏi tình trạng nô lệ tại Ai Cập. Từ minh chứng cụ thể đó, dân Do Thái hiểu thêm, Thiên Chúa yêu thương cũng là Thiên Chúa đã giải thoát nhân loại khỏi hư vô mà tạo dựng nên con người. Giải thoát vượt xa tầm hiểu biết của con người “từ không đến có” và từ “tội lỗi đến chỗ tinh tuyền”. Nhờ vào đời sống kinh nghiệm về lòng yêu thương của Thiên Chúa, Thánh Giuse đã tự nguyện hiến dâng của lể chính cuộc đời của Ngài trở thành công cụ cho Giải Thoát.

    Thánh Giuse, người công chính cũng chính trong điểm son này. Sống cuộc đời trở thành của lễ hiến dâng, cho Thiên Chúa và cho nhiều người. Cuộc sống không còn sống cho chính mình nữa mà là sống trong Thiên Chúa. Tình yêu không còn mang tính cá nhân nữa mà mang chiều kích Toàn Thể. Chỉ trong Đấng là cội nguồn mọi sự, cá nhân mỗi người mới được thực hiện trong Chúa Giêsu “trở nên tất cả cho mọi người, để cứu sống nhiều người” (1 Cor 9, 22).

    Sống tình yêu là cách sống đưa nhiều người về với Thiên Chúa, để chính Thiên Chúa giải thoát họ, đó là cách sống công bình trong Tình Yêu. Trả lại lẽ đúng cho con người, mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương.

    Xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con trong cuộc đời trần thế này, theo gương Ngài sống đáp lại Lời Chúa mời gọi: “Nên hoàn hảo”, thực thi đời sống trong kinh nghiệm giải thoát để ra khỏi chính mình và sống kết hiệp với Tình Yêu Chúa để nên mọi sự cho mọi người.

    (Suy niệm về Thánh Giuse cùng với sứ điệp mùa chay 2010 của Đức giáo Hoàng Bênêdictô XVI)
    L.m Giuse Hoàng Kim Toan

  3. Giuse trầm lặng
    VietCatholic News (03 Mar 2010 05:32)
    Thánh Giuse sống âm thầm
    Cả đời biết giữ lặng im, vâng lời
    Nghe tin Đức Mẹ mang thai
    Ngài không nói, chỉ định rời đi xa
    Thiên thần khuyên nhủ đừng đi
    Ngài liền ở lại chăm lo cho Nàng
    Làm nghề thợ mộc gian nan
    Giuse chịu đựng, không than trách gì
    Lúc Con lạc ở Đền thờ
    Đức Mẹ trách Chúa, Giuse đứng nhìn
    Cả đời Ngài vẫn lặng im
    Thánh Kinh cũng chẳng một lần nhắc chi
    Nhưng Người Công Chính Giuse
    Hy sinh thầm lặng, sớm khuya không lời
    Nhọc nhằn gian khổ cả đời
    Không ai khen tặng, không ai chúc mừng
    Thương con, thương vợ hết lòng
    Dẫu cô đơn lắm vẫn không nói gì
    Lạ kỳ mà cũng diệu kỳ
    Làm nhiều, nói ít, đó là Giuse
    Con người trầm lặng, đơn sơ
    Nhưng chẳng hững hờ, một mực tin yêu.
    Trầm Thiên Thu

  4. CON NGƯỜI CỦA THÁNH GIUSE

    Viết về thánh Giuse, chúng ta như có một cái gì đó thật ngỡ ngàng về con người im lặng trầm lắng của Người. Nhưng, thánh Giuse lại là một Người đầy quyền thế trước mặt Chúa Giêsu đến nỗi thánh Têrêsa Avila đã cảm nghiệm sâu sắc về vai trò của thánh Giuse, Ngài viết:”…Trên trời thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin “. Hôm nay ngày 01/5, ngày Quốc Tế Lao Động, cũng là ngày thánh Giuse được tôn vinh làm Bổn Mạng giới lao động.

    CON NGƯỜI CỦA THÁNH GIUSE : MỘT HUYỀN NHIỆM : Nói đến thánh Giuse, mọi người đều hiểu rằng thánh nhân là một con người hoàn toàn im lặng, hầu như không được các Tin Mừng ghi chép lại một lời nào do miệng Người thốt ra. Nhưng chính sự im lặng của thánh nhân giúp chúng ta nghiệm ra mầu nhiệm của Thiên Chúa. Thánh Giuse sở dĩ im lặng là để giúp nhân loại nhận ra rằng Thiên Chúa nói đã đầy đủ, bao gồm tất cả và thánh nhân không cần phải thêm gì vào Lời của Thiên Chúa.Thánh Giuse đã thinh lặng để chiêm ngắm mầu nhiệm Con Thiên Chúa. Suốt cuộc đời của Người ở làng quê Nagiarét, thánh nhân vẫn im lặng hơn là nói . Sự thinh lặng của thánh Giuse luôn mang ý nghĩa lớn lao về sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về thánh Giuse mà không sợ quá lời, Ngài thinh lặng trong chiêm niệm để Chúa Thánh Thần dẫn đưa cuộc đời Ngài và để Ngài hoàn toàn tự do hành động theo ý của Thiên Chúa. Đây là một điều kỳ diệu, một huyền nhiệm cao siêu của cuộc đời thánh Giuse. Thánh Giuse đã thinh lặng để lắng nghe, để đón nhận và để cho trái tim mới của mình hướng dẫn và chỉ bảo con đường của Ngài theo ý của Thiên Chúa. Đúng là thánh Giuse đã biết lắng nghe, biết mở rộng tấm lòng để sống hiệp thông với Thiên Chúa.

    THÁNH GIUSE LÀ MẪU GƯƠNG LAO ĐỘNG: Theo Tin Mừng, thánh Giuse sống ở Nagiarét, làm nghề thợ mộc để nuôi sống bản thân và gia đình. Thánh Giuse đã sống đời lao động theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Bởi vì, việc nhập thể của Chúa Giêsu làm người để sống với, sống vì, sống cho nhân loại, cho con người mở ra cho thấy thế giới được Thiên Chúa cứu độ. Thế giới nếu không có sự hiện diện của Thiên Chúa, thế giới sẽ thiếu vắng và không được cứu độ. Việc lao động của con người nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Con người với những suy nghĩ, với sự thiện chí của mình đã không chỉ nghĩ đến lợi nhuận, nghĩ đến làm giầu và tích lũy của cải, vật chất, nhưng có rất nhiều người,nhiều nhóm, nhiều phong trào đã đưa lao động càng lúc càng tiến gần đến kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Lao động sẽ không còn là đơn điệu, lập đi lập lại hàng ngày những công việc, những cách làm một cách máy móc, cho có lệ, qua loa để mau hết giờ để kiếm nhiều lợi ích, tiền của cho cá nhân, cho bản thân của mình, nhưng lao động theo mẫu của thánh Giuse là làm cho lao động mang một ý nghĩa cứu độ và phục vụ, lao động theo lời mời gọi của Thiên Chúa.

    Thánh Giuse quả thực đã sống hoàn toàn theo tiếng gọi của Chúa và làm việc cũng theo tác động và lời mời gọi của Chúa. Do đó, ngày hôm nay, ngày Quốc Tế lao động chúng ta hãy cầu nguyện và noi gương bắt chước thánh Giuse sống, lao động theo đúng ý nghĩa lao động là góp tay làm vinh quang cho Thiên Chúa qua sự sáng tạo vũ trụ, con người và làm việc là để ơn cứu rỗi được chan hòa nơi thế giới này.

    Lạy Thiên Chúa tạo thành trời đất, Chúa đã muốn cho con người lao động để tiếp tục công trình của Chúa. Xin nhận lời thánh cả Giuse chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương Người để lại là chu toàn nhiệm vụ Chúa đã giao phó hầu được hưởng niềm vui, Chúa đã hứa cho tôi tớ trung thành 9 Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Giuse thợ ).

  5. GIUSE – THÁNH QUAN THÀY ĐÁNG KÍNH CỦA TÔI

    Giuse là tên thánh được đặt cho không riêng gì tôi mà là cho tất cả những người nam trong cả làng tôi. Đấy là một thông lệ không biết có từ bao giờ và kéo dài cho đến tận ngày nay. Hễ cháu bé trai nào chào đời là y như rằng tên thánh phải là Giuse. Chỉ Giuse thôi và không có tên thánh nào khác!

    Tôi quê ngoài Bắc, di cư vào Nam năm 1954. Hầu như làng tôi di cư hết cả làng, chỉ còn sót lại có 5 gia đình Công giáo ở lại. Mà thực ra cũng không phải 5 mà là 3 vì 2 gia đình Công giáo từ nơi khác đến sau này. Chỉ năm gia đình còn lại mà phải coi sóc một nhà thờ họ cổ kính được xây dựng vào năm 1900. Nhà thờ này hầu như không thay đồi gì từ khi xây dựng đến nay đã trên 100 năm! Khi di cư, thì thánh Giuse cũng “di cư” vào Nam với làng tôi! Nói cho vui thế thôi chứ thực ra thì Thánh Giuse vẫn được dân làng thờ kính cả ngoài Bắc lẫn trong Nam. Các cháu sinh ra cho dù trong Nam hay ngoài Bắc đều được đặt tên thánh là Giuse.

    Khi vào Nam, cha xứ có sáng kiến là đặt tên thánh cho các giáo họ ở trại định cư mới thành lập. Không còn giống như ngoài Bắc “một mình một làng” mà là dân di cư từ nhiều làng khác nhau tập trung về đây nên tên gọi cho các giáo họ phải khác nhau. Giáo họ tôi vẫn lại được mang tên như xưa: Giáo họ Giuse.

    Chính vì lẽ ai cũng tên thánh là Giuse nên đến ngày mừng lễ quan thày thật là vui. Đúng là “niềm vui không của riêng ai”! Ngày lễ kính theo tập tục xưa là ngày 1.5, tức là ngày lễ kính Thánh Giuse Lao động (không phải ngày thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ 19.3). Lễ mừng luôn luôn được tổ chức trọng thể. Dân làng ai cũng dọn mình xưng tội rước lễ. đọc kinh sáng tối. Nhiều gia đình còn tổ chức đọc kinh theo xóm rất sốt sắng. Đến ngày lễ thì niềm vui mới đạt tời đỉnh cao. Trong thánh lễ, cha xứ nhắc lại ý nghĩa của ngày lễ, về công đức của Thánh Cả Giuse, về tấm gương cần cù lao động… Bởi lẽ thế, Giuse được coi là quan thày không riêng gì cho làng tôi, mà là còn cho cả giáo phận, thậm chí cả Giáo hội toàn cầu. Nghe như thế trong tôi trào dâng một niềm vui sướng và tự hào. Thật vinh dự cho những ai mang tên thánh là Giuse, dĩ nhiên trong đó có tôi!

    Việc tôn kính Thánh Giuse thì hầu như nhà thờ nào cũng có. Tôi đã có dịp đi đến nhiều nhà thờ và đều nhận thấy chắc hẳn đây là một nét đặc trưng của Giáo hội Việt Nam. Ở Sài Gòn ngày nay có có hẳn một “Đền Thánh Giuse”, nơi mà không ngày nào không có người đến cầu xin trong suốt nhiều năm qua.

    Còn nhớ khi tôi còn bé, sau khi học xong tiểu học là phải đi thi. Cách đây trên 40 năm, khi mà giáo dục chưa phát triển như ngày nay, thì đi thi tiểu học là một kỳ thi hết sức trọng đại cho các cậu bé. Không đứa nào trong lớp của tôi không tỏ ra hồi hộp và lo lắng cho kỳ thi sắp đến, cho dù trong lớp có giòi tới đâu! Mà khó khăn nữa là phải thi xa nhà. Làng định cư của tôi không phải là nơi tổ chức thi, phải lên quận. Quận lỵ cách xã chỉ 10 cây số thôi, nhưng vì lúc đó chỉ mới 11-12 tuổi đầu, đi thi như thế là xa lắm rồi, cho nên lại càng hồi hộp hơn. Làm thế nào để khỏi lo nhỉ? Không đứa nào trong số trên 40 đứa trong lớp tôi nghĩ ra. Mẹ tôi khuyên tôi cầu xin Thánh Giuse. Chà! Một lời khuyên đúng lúc. Tôi đề nghị các bạn cầu xin Thánh Giuse như lới khuyên của mẹ tôi thì liền được các bạn hưởng ứng nhiệt liệt! Thế rồi đứa nào cũng thì thầm”Lạy ơn Ông Thánh Giuse, chúng con chay đến cùng Người, trong cơn gian nan …” Tuy nhiên, kinh Thánh Giuse lạ vừa dài, vừa khó nhớ nên không đứa nào thuộc hết! Thôi thì có lòng là được rồi! Cuối cùng, việc gì phải đến, sẽ đến. Trong số hơn 40 đứa chúng tôi đi thi tiểu học năm ấy, không có đứa nào hỏng cả. Thật vui mừng không kể xiết. Chúng tôi lại bàn tán, chắc là “Nhờ ơn Ông Thánh Giuse!”

    Và thời gian trôi qua. Trong số hơn 40 học sinh nhỏ tuổi năm ấy thì chỉ có ít đứa được tiếp tục học lên. Tôi may mắn được cha mẹ cho lên tình học, rồi thi tú tài, rồi tốt nghiệp đại học. Như một thói quen hình thành từ tấm bé, hễ khi nào tôi phải thi cử. tôi lại cầu xin cùng Thánh Giuse quan thày của tôi. Sau này ra đời, tôi tiếp tục cầu xin cùng Thánh Giuse trong những dịp trọng đại hơn. Tôi cầu xin cùng Thánh Giuse trước khi tôi lập gia đình, tôi cầu xin cùng Thánh Giuse được bình an trong cuộc “tháo chạy tán loạn” năm 1975, lúc mà mạng sống con người bị đặt trong tình trạng hết sức mong manh, giữa lúc tên bay đạn lạc và “vô chính phủ”, lúc chính quyền cũ đang tan rã và sụp đổ, trong lúc mà gia đình tôi không còn biết trông cậy vào đâu… Song tất cả đều được như ý. Thói quen cầu xin cùng Thánh Giuse khi gặp khó khăn, hoạn nạn vẫn hiện diện trong tôi trong nhiều năm qua.

    Con trai tôi, tôi cũng đặt tên thánh là Giuse theo tập tục của làng tôi. Tuy nhiên, tên thánh của cháu bé khi đi rửa tội ngày nay người ta thường đặt theo tên thánh của cha đỡ đầu. Song năm ngoái tôi vẫn đặt tên thánh cho cháu nội của tôi là Giuse, nhưng có thay đổi đôi chút: ghép tên Giuse với tên thánh của người cha đỡ đầu của cháu và trở thành một tên mới: Giuse-Phêrô …
    Lạy Thánh Giuse, Thánh Cả của sức cần lao, quan thày của con. Con vinh dự và tự hào cũng như yên tâm khi được mang tên của Người.

  6. THÁNH GIUSE ĐÓN NHẬN

    § GM GB Bùi Tuần

    Để gặp gỡ thánh Giuse, tôi đi vào Phúc Âm với tâm hồn cầu nguyện.

    Đọc Phúc Âm, tôi không thấy thánh Giuse để lại lời nào. Nhưng khi cầu nguyện cùng thánh Giuse trong bầu khí Phúc Âm, tôi nhận thấy thánh Giuse có một đặc điểm nổi bật. Đặc điểm đó là đón nhận thánh ý Chúa. Tôi có cảm tưởng, đặc điểm đó chính là lời Ngài muốn nói với tôi.

    Tinh thần đón nhận thánh ý Chúa nơi Ngài được ghi lại trong bốn trường hợp:

    – Ngài vâng đón nhận cô Maria làm bạn đời của mình (Mt 1,18-24),

    – Ngài vâng đón nhận lệnh lên đường sang Ai Cập lánh nạn (Mt 2,13-19),

    – Ngài vâng đón nhận lời truyền bỏ Ai Cập, để trở về Israel (Mt 2,19-21),

    – Ngài vâng đón nhận ý kiến tránh vùng Giuđê, để đến lập cư tại Nagiarét, vùng Galilê (Mt 2,22-23)

    Tất cả đều vì mục đích bảo vệ Đức Maria và Hài nhi Giêsu.

    Phúc Âm đưa ra bốn trường hợp trên. Cả bốn trường hợp đó cũng đủ cho phép tôi nên tập trung bắt chước Ngài về điểm đón nhận ý Chúa

    Đi theo điểm này, tôi biết là không dễ. Không dễ về nhiều mặt. Nhưngkhó nhất là cách đón nhận ý Chúa và sau đón nhận ý Chúa. Tôi nói sự thực trên đây với kinh nghiệm tu đức, mục vụ và truyền giáo.

    Tôi xin phép chia sẻ phần nào. Trước hết về cách thánh Giuse đón nhận ý Chúa.Cách đón nhận.

    1/ Ngài đón nhận bằng đức tin đi với hành động.
    Đón nhận bằng đức tin là điều không cần nói. Nhưng bằng một đức tin đi đôi với hành động mau mắn là điều rất đáng kính phục. Sau này, thánh Giacôbê đã viết: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17).

    Khi tả hành động vâng lời của thánh Giuse, Phúc Âm dùng những từ nói lên tính dứt khoát và mau lẹ. Như Ngài lập tức, chỗi dậy, ngay đang đêm vội vã lên đường (Mt 2,14.21).

    2/ Ngài đón nhận bằng đức mến thiết tha đối với Chúa và lòng yêu thương nồng nàn đối với Đức Mẹ Maria và Hài nhi Giêsu.
    Tôi hiểu lòng mến của Ngài rất đúng với lời Chúa dạy: “Mến yêu với hết lòng mình, hết linh hồn mình và hết trí khôn mình” (Mt 22,37-40). Có nghĩa là cả bằng tình yêu siêu nhiên lẫn với tình yêu tự nhiên.

    3/ Ngài đón nhận với lòng phó thác tuyệt đối.
    Khi đón nhận các lời thiên thần truyền, thánh Giuse biết sẽ có những rủi ro đến từ nhiều phía. Nhưng Ngài không từ chối. Thậm chí Ngài cũng không thắc mắc. Ngài đón nhận ý Chúa một cách bình tĩnh, nhưng thông minh, ở chỗ Ngài phó thác tuyệt đối nơi Đấng đã sai mình.

    Cách Chúa trao trách nhiệm cho thánh Giuse rất là đơn giản. Cách thánh Giuse đón nhận trách nhiệm cũng rất âm thầm. Không lễ nghi. Không nghi thức. Không ồn ào. Không phô trương. Không rườm rà. Không màu mè. Không tổ chức linh đình, sang trọng. Điều trao ban, điều đón nhận thuộc loại thiêng liêng, quí giá, quan trọng. Thế mà lại đã diễn ra hết sức đơn sơ, cực kỳ vắn gọn, khiêm tốn, âm thầm.

    Phải chăng đó cũng là một chi tiết Chúa muốn chọn cho chương trình cứu độ.

    Cách đón nhận là thế. Còn sau đón nhận thì thế nào?

    Sau đón nhận.
    1/ Thánh Giuse sống điều đón nhận với những lựa chọn tự do trong tinh thần trách nhiệm Chúa trao cho Ngài trách nhiệm bảo vệ Đức Maria và Hài nhi Giêsu.
    Ngài đón nhận trách nhiệm đó. Nhưng, khi thực hành trách nhiệm đó trong từng giai đoạn cuộc sống, với những hoàn cảnh khác nhau, thì Ngài phải tự suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo, rồi tự chọn lựa những gì mình nghĩ là tốt hơn. Như, khi ở Belem, Ngài nên có những giao tiếp thế nào với ba vua, các mục đồng, và những người đến thăm. Như, khi lên đường trốn sang Ai Cập, Ngài nên mang theo những gì, nên dùng phương tiện nào để di chuyển. Như, khi sống giữa những người Ai Cập, vừa khác tiếng nói, văn hoá, vừa khác tôn giáo, Ngài phải xử sự thế nào vv… Tất cả những chi tiết cụ thể đó, Ngài không thể đợi thiên thần đến chỉ dạy. Nhưng chính Ngài phải tự toan tính, phải có sáng kiến. Chúa để Ngài tự do. Và Ngài phải chịu trách nhiệm về sự tự do của mình.

    2/ Ngài sống điều đón nhận với nhận thức một thực tế lẫn lộn ánh sáng và bóng tối.
    Ánh sáng là những người lành, việc lành. Bóng tối là những người xấu, việc xấu.

    Sự xấu là một sức mạnh lớn. Nhưng sự lành cũng là một lực lượng mạnh. Sự đấu tranh giữa Thiện và Ác là rất cam go. Tuy nhiên nhân loại rất cần ơn Chúa cứu độ, để đem sự thiện đến chiến thắng. Ơn cứu độ được ban cho nhân loại nơi Đức Kitô, mà thánh Giuse có sứ mệnh che giấu trong một thời gian Chúa muốn.

    3/ Ngài sống điều đón nhận với lòng rất khiêm tốn và thái độ kín đáo, tỉnh thức, cầu nguyện.
    Xem ra chính Chúa muốn điều đó. Phúc Âm nói quá ít về thánh Giuse. Kinh nguyện Thánh Thể, tức kinh Tạ Ơn, II, III, IV, trong thánh lễ, không nhắc đến tên Ngài. Cũng không nghe thấy chuyện Ngài đã hiện ra nơi này nơi nọ, để biến nơi đó thành nơi hành hương nổi tiếng. Đúng là Ngài luôn luôn sống lời ca tụng: “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô, mà mọi danh dự và vinh quang đều qui về Chúa là Cha toàn năng cùng với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời”. Ngài ẩn mình trong cảnh nghèo nàn khiêm tốn. Nhưng chính vì thế Ngài trở nên một chứng nhân Tin Mừng giàu sức lôi cuốn.

    Trên đây là mấy điều thánh Giuse dạy tôi, để thánh hoá tôi, nhất là để tôi biết cộng tác với Ngài trong việc bênh vực Hội Thánh và loan báo Tin Mừng.

    Thú thực là tôi còn rất xa những điều Ngài dạy. Với lòng sám hối, tôi cầu xin Chúa thứ tha cho tôi. Những khoảng cách đau buồn sẽ mãi còn, nếu không được Chúa thương tình cứu độ.

    Nhưng tôi tin:Thánh Giuse đón nhận sẽ vui lòng đón nhận những ai chạy lại bên Ngài, xin Ngài cầu bầu cùng Chúa cho. Chúng ta đừng ngại đến với Ngài.

    Hiện nay đang xảy ra nhiều thứ bất ổn, kể cả bất ổn về tôn giáo. Bất ổn tôn giáo sẽ không thể giải quyết đơn thuần bằng các cách tự nhiên. Nhất là khi bất ổn đó lại do ma quỉ chủ mưu. Cách đối phó hữu hiệu đối với các bất ổn tôn giáo là cầu nguyện, sám hối và sống noi gương thánh Giuse.

    Thánh Giuse là Bổn Mạng Hội Thánh Việt Nam. Chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện với Ngài. Tôi tin Ngài sẽ đón nhận lời cầu của ta.

  7. THÁNH GIUSE VÀ BA CON ĐƯỜNG

    § GB. Bùi Tuần

    Thánh Giuse là con người thinh lặng. Nhưng Ngài là thầy dạy nhiều nhân đức.

    Năm nay, mừng lễ Ngài tại Việt Nam trong tình hình mới, tôi cùng với những kẻ mến Ngài cùng nhau cầu nguyện và suy nghĩ. Chúng tôi khẩn khoản xin Ngài chỉ bảo cho biết điều gì, mà Ngài thấy là cần để ý nhất cho cuộc sống đạo hôm nay.

    Tôi gẫm suy và giờ đây tôi mạo muội chia sẻ.
    Tôi thấy cuộc sống thánh Giuse được chi phối bởi ba con đường.

    Cuộc sống của thánh Giuse với ba con đường

    1/ Con đường sinh sống của thánh Giuse

    Đọc Phúc Âm, chúng ta nhận ra phần nào hình ảnh sinh sống của thánh Giuse.

    Ngài đã sinh sống đúng như một người lao động bình thường. Ngài kiếm sống một cách cần cù với nghề thợ mộc. Ngài hoà nhã với xóm làng. Ngài giữ luật Nước đi về Belem để đăng ký. Theo lệnh Chúa, Ngài mau lẹ đưa gia đình sang Ai Cập để lánh nạn. Cũng theo lệnh Chúa, Ngài đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trở về Galilê, định cư tại thành Nadarét. Ở đó Ngài lo cho gia đình một cuộc sống tương đối đầy đủ. Ngài được mọi người đồng hương coi là một người công chính.

    Như vậy, con đường sinh sống của thánh Giuse kể là ổn định, bảo đảm được nhân cách cho tất cả gia đình.

    2/ Con đường giữ đạo của thánh Giuse

    Thánh Giuse đã thực hiện mọi điều luật đạo bấy giờ truyền dạy. Ngài để Chúa Hài Đồng chịu phép cắt bì, đúng ngày, đúng cách. Ngài đem Chúa Hài Đồng lên Giêrusalem để tiến dâng lên Thiên Chúa. Hằng năm Ngài cùng với Đức Mẹ và Chúa Giêsu trẩy hội đến đền Giêrusalem mừng lễ Vượt qua.
    Con đường giữ đạo của thánh Giuse được coi là đúng đắn, trọn vẹn theo luật đạo.

    Ngài kính trọng các hình thức luật đạo. Trong mọi hình thức đó, Ngài dâng lên Chúa tất cả tấm lòng tin cậy mến, tôn thờ tạ ơn Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân.

    3/ Con đường thiêng liêng của thánh Giuse

    Tôi gọi con đường thiêng liêng của thánh Giuse là sự Ngài tin tuyệt đối Chúa Giêsu chính là con đường cứu độ nhân loại. Niềm tin này đưa Ngài vào sự sống mới. Ngài gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha. Sự sống mới không ngừng thôi thúc Ngài từ bỏ mình, sẵn sàng chịu mọi sự khốn khó, để cộng tác vào chương trình cứu thế của Chúa Giêsu.

    Con đường thiêng liêng này rất âm thầm, nhưng biến đổi toàn diện đời Ngài. Ngài sống cho ơn gọi đó. Hạnh phúc của Ngài là được đi trên con đường thiêng liêng cao cả ấy. Ngài biết con đường thiêng liêng này đòi Ngài phải tỉnh thức lắng nghe ý Chúa, khiêm tốn thực thi ý Chúa trong mọi sự, can đảm bỏ ý riêng. Nhưng nhờ ơn Chúa, Ngài đã trung thành với con đường này từng giây từng phút suốt trọn đời Ngài.

    Cuộc sống thánh Giuse là đã đi theo ba con đường trên đây một cách hài hoà, với nhiều tỉnh thức và khôn ngoan, nhất là với đức ái quên mình.
    Bây giờ, chúng ta thử nhìn vào chính mình và cộng đoàn ta, để xem cuộc sống hiện nay của ta có giống cuộc sống của thánh Giuse không.

    Cuộc sống của chúng ta với những con đường

    1/ Con đường sinh sống của ta

    Ta phải sống. Nên ta lo chọn một con đường để sinh sống, sao cho an cư lạc nghiệp. Nỗi lo đó là chính đáng. Nhưng trên thực tế hôm nay, đang xảy ra nhiều điều đáng ngại. Có những người lười biếng, không phấn đấu làm ăn lương thiện. Lại có những người chạy theo con đường sinh sống với nhiều tham vọng không chính đáng. Được cái này lại muốn thêm cái kia. Ngày đêm bơi lội trong những bận tâm về của cải và danh vọng.

    Phong trào hưởng thụ và cạnh tranh kinh tế đang thúc đẩy con người dốc hết sức mình vào hiệu năng vật chất. Xa xỉ kéo theo xa xỉ. Phí phạm đòi thêm phí phạm.

    Tham vọng không biên giới. Hưởng thụ không có chỗ dừng. Nhiều điều lừa dối ta. Nhưng lại nói là để phục vụ cuộc sống. Do đó, rất nhiều người không còn để tâm đến việc đạo.

    2/ Con đường giữ đạo của ta

    Thực ra, phần đông còn giữ đạo. Nhưng biết bao người giữ đạo cho có lệ. An tâm với hình thức. Bỏ nhiều điều căn bản. Nhất là lỗi phạm đức ái một cách ngon lành.

    Đáng ngại nhất là người trong đạo bị dụng-cụ-hoá, để cho ma quỷ tự do lôi kéo vào những chương trình đen tối, gây nên gương mù gương xấu.

    3/ Con đường thiêng liêng của ta

    Nếu tôi không lầm, thì con đường thiêng liêng hiện nay đang bị nhiều cộng đoàn coi rất nhẹ. Con đường thiêng liêng, mà thánh Giuse đã tha thiết trung thành là sống mật thiết với Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Con đường ấy trước đây đã được nhiều giáo dân, nhất là nhiều tu sĩ giáo sĩ nêu gương. Nhưng nay mẫu gương đời sống khó nghèo, chiêm niệm, cầu nguyện, hy sinh, khổ hạnh đang có nguy cơ trở nên khan hiếm.
    Hiện nay, cơ sở đạo ta được mở mang hơn. Tổ chức đạo ta được tưng bừng hơn. Nhân sự đạo ta được tăng số hơn. Thiết tưởng, tất cả sẽ tốt hơn, nếu con đường thiêng liêng cũng được phát triển sâu rộng, nhất là nơi những người tu, đặc biệt là nơi các đấng bậc trong đạo.

    Phần đông chúng ta tưởng rằng: Vấn đề giải phóng con người tuỳ thuộc ở vấn đề tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ chế xã hội, tự do tín ngưỡng.

    Thiết nghĩ đó chỉ đúng một phần. Theo tôi, yếu tố quan trọng để cứu độ con người và thế giới vẫn là con đường thiêng liêng. Thánh Kinh dạy như thế. Kinh nghiệm lịch sử minh chứng điều đó. Tại Việt Nam, nhiều nơi đạo coi như đang lên, nhưng thực sự đang xuống, vì bỏ con đường thiêng liêng.

    Xin thánh Giuse thương dẫn dắt mỗi người chúng ta đi đúng những con đường mà Chúa muốn, nhất là biết tha thiết với con đường thiêng liêng cứu độ, mà xưa Ngài đã gắn bó.

    Xin thánh Giuse chia sẻ đức ái của Ngài một cách đặc biệt cho các gia trưởng, và một cách đặc biệt hơn nữa cho các mục tử tại Việt Nam hôm nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: