Ơn làm Mẹ Thiên Chúa

Trong đức tin, Giáo Hội đã tuyên bố rành mạch Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Chuộc, Ngài có hai bản tính trong một ngôi vị duy nhất. Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu tức là Mẹ Thiên Chúa làm người, Mẹ của Thiên Chúa.

Tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, được công đồng Êphêsô tuyên tín năm 431. Thực ra ý niệm về chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria là một truyền thống đã có từ lâu đời trước đó.

Chúng ta không thể nói đến một Kitô giáo chân chính, một Kitô giáo tin vào sự kiện Thiên Chúa xuống thế làm người, mà lại không tin vào một tín điều cổ kính như thế trong Thánh mẫu học hay e ngại tìm cách che giấu và gạt tín điều đó sang một bên.

Một điều đáng ngạc nhiên là chúng ta thấy Kinh Thánh không quá cho việc Đức Maria là Mẹ ruột của Chúa Giêsu là một tước vị cao trọng (mặc dù điều này đã được nói đến quá rõ ràng). Thánh Kinh cũng không quá nói tới việc Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa chỉ là kết quả của một biến cố thể lý. Nhưng Thánh Kinh lại đề cập rất nhiều đến hành động của Đức Maria, hành động đó diễn tả mọi ý nghĩa, mọi chức phẩm của Ngài. Theo thánh Luca, Đức Trinh Nữ Maria đã trở nên người nữ diễm phúc hơn mọi người nữ vì Ngài đã nói lên lời “xin vâng”, biểu lộ một đức tin và lòng thuần phục chân thành.

Lời “xin vâng” của lòng tin ấy có giá trị cao cả và có ý nghĩa trong lịch sử cứu độ là nhờ vào sự kiện Mẹ đã vui lòng nhận lấy chức làm Mẹ Thiên Chúa. Chức làm Mẹ Thiên Chúa mà ta đề cập ở đây trước tiên không phải chỉ là một kết quả của một hiện tượng thể lý, nhưng chính là một hành động tự do của một cá nhân đã đích thân đón nhận, vì đã được đầy ơn thánh. Do đó tất cả diễn tiến mầu nhiệm của cuộc truyền tin không chỉ nằm trong lĩnh vực các nhân hay trong tiểu sử của Đức Maria, để chỉ còn có mối liên lạc giữa Ngài và Chúa Giêsu thôi đâu. Nhưng biến cố ấy (xin vâng) đã được nâng lên và gắn liền với chính lịch sử lòng tin và ơn cứu độ. Đức Maria xuất hiện như một nhân vật quan trọng trong lịch sử cứu độ, trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và nhân loại như Abraham hay bao vị khác, những vị mà vì đã có thái độ tin tưởng dứt khoát nên đã thực sự cộng tác vào công trình cứu độ chúng ta. Do đó các vị ấy trở thành như nền móng cho ta xây dựng cuộc sống của ta.

Nhờ lời “xin vâng” đơn sơ và vô điều kiện của Đức Maria, Con Chúa Cha hằng sống đã xuống trần gian, sống trong một thân xác như chúng ta, trong lịch sử của chúng ta. Từ giây phút ấy, Thiên Chúa đã chấp nhận chính trần gian này trong thân xác con mình cho đến muôn đời. Điều này được thực hiện vì Đức Maria đã trở thành người Mẹ của Chúa qua tiếng “xin vâng” phát xuất từ chính lòng tin của Mẹ.

Theo Thánh Kinh, ngay từ lúc chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria đã thực sự dấn thân vào một biến cố vĩ đại, kinh thiên động địa, vượt hẳn trí khôn con người xảy ra giữa Thiên Chúa hằng hữu và thế trần, thế trần mà dòng giống nhân loại độc quyền chiến đóng. Như thế, nếu chúng ta muốn am hiểu hay ít ra muốn biết sơ qua ý nghĩa của lời tuyên tín “Đức Maria là Mẹ của Thiên Chúa, của Ngôi Lời Thiên Chúa hằng sống nhập thể”, chúng ta không được phép nhìn chức làm Mẹ đó chỉ thuộc về phương diện thân xác mà thôi. Chúng ta phải nhìn nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa do một tác động hoàn toàn tự do, một tác động dấn thân, bộc phát từ lòng tin đã xảy ra giữa lịch sử cứu độ. Giờ đây chúng ta còn phải suy nghĩ thêm về lời tuyên xưng: “và Ngôi Hai xuống thế làm người”.

Thiên Chúa đã tạo dựng một thế giới gồm những ngôi vị tự do: thiên thần và con người. Quyền năng khôn lường của Thiên Chúa chính là ở chỗ Người đã ban hẳn cho thụ tạo một sự tự do đích thực. Do sự tự do này mà trong lịch sử thế giới đã khai mào một cuộc đối thoại phi thường giữa Thiên Chúa tự do và con người tự do.

Nhưng đây mới chính là điều đặc biệt hơn cả: về phía Thiên Chúa, cuộc đối thoại luôn được bỏ ngỏ (Thiên Chúa luôn sẵn sàng nói chuyện với con người). Con người có hoàn toàn tự do để hành động và trong lịch sử còn đang diễn tiến, họ có thể chọn một lập trường mới đối với Thiên Chúa. Nhưng trước những khả năng và cách sử dụng tự do của con người, Thiên Chúa có thể đáp lại bằng muôn phương nghìn cách, vì Người là Đấng vô hạn, vì Người luôn có sẵn những khả năng vô biên để đáp lại những thái độ khác nhau của thụ tạo bằng những cách Người muốn. Người có thể đáp lại những hành động của thụ tạo bằng những biện pháp ta không thể hiểu và lường trước được. Nếu cứ đứng về quan điểm của trần gian mà xét thì tất cả mọi cách đối xử của Thiên Chúa đều bất định và bỏ ngỏ.

Cho dầu trần gian này đã có kinh nghiệm giao tiếp với Đấng Tạo Hóa từ lâu, nhưng không ai có thể biết trước được tiếng nói cuối cùng của Người trong cuộc đối thoại này ra sao. Trong cuộc đối thoại không ngừng này, Thiên Chúa không cần nói ra lời sau hết hay nói lên câu trả lời dứt khoát. Thiên Chúa có thể tìm ra bao cách mới lạ và bất ngờ để đáp lại những tiếng chúc tụng hay kêu trách của nhân loại vang lên từ vực thẳm hư vô.

Nhưng Thiên Chúa đã hành động khác hẳn: Người đã công bố lời cuối cùng và quyết định với nhân loại. Lời này bao gồm tất cả và không thể thu hồi được. Người thực sự đã cắm sâu Lời ấy vào trần gian đến nỗi Người không thể rút ra được nữa, đến nỗi Người không thể đáp lại con người bằng một lời nào khác nữa. Người đã tuyên bố lời ấy bằng cách gửi xuống trần gian chính DIỄN TỪ vô biên của Người. Lời này diễn tả toàn thể mình Người, đến nỗi Người hiện diện ngay trong chính xác thịt nhân loại này như một chi thể của nó.

Nhờ việc Lời ấy đã trở nên xác phàm nhưng vẫn là Ngôi Hai Thiên Chúa mà Thiên Chúa đã tạo nên một thực tại quyết liệt không bao giờ thu hồi được nữa. Người đã dứt khoát thái độ của mình đến nỗi bây giờ trần gian đã bị lôi kéo vào lòng thương xót của Người và chỉ còn theo đuổi một mục tiêu duy nhất là: đón Nhận Thiên Chúa. Khi chúng ta cúi đầu cung kính mà đọc rằng: “chốc ấy Ngôi Hai xuống thế làm người”, là chúng ta có ý nói rằng: Lời cuối cùng của Thiên Chúa không phải là một lời kết án, nhưng chính là Lời yêu thương; quyết định cuối cùng của Người không phải là đẩy chúng ta ra xa Người ngàn trùng, nhưng là Người đến gần ta đến cực độ; thái độ cuối cùng của Người không phải là tỏ ra uy quyền thánh thiện vô song và bất khả xâm phạm, nhưng là một mối tình thương khôn tả và qua mối tình ấy Người tự hiến thân mình cho loài thụ tạo.

Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở nên một con người bằng xương bằng thịt, chính là nhờ một Trinh Nữ thuộc dòng giống nhân loại đã cúi đầu chấp nhận lời loan tin do sứ thần mang tới với một tâm tình hoàn toàn tự do, trọn vẹn phó thác. Thật vậy, Trinh Nữ đã nói: “Tôi xin vâng như lời thiên thần truyền”.

Thiên Chúa đã muốn chọn tâm tình tự do, phó thác ấy làm cánh cửa mở rộng đón Ngôi Lời Thiên Chúa vào trần gian và đón nhận trần gian vào chính sự sống của Người. Vì thế, Đức Maria, một người phàm, đã trở nên cánh cửa rộng mở đón nhận lòng thương xót vĩnh cửu của Thiên Chúa. Ngài đã trở nên cửa thiên đàng và là ngưỡng cửa qua đó ta mới được cứu, được đón nhận vào sự sống của Thiên Chúa.

Chẳng cần nói ta cũng biết rằng, hành động tự do, của trả lời đầy tin tưởng của Đức Maria, cũng như qua Ngài mà trần gian đón nhận ơn cứu chuộc và được thân cận với Thiên Chúa…tất cả đều do ân huệ Thiên Chúa ban cho Ngài.

Tuy nhiên chúng ta cũng không thể nói được rằng lời thưa “xin vâng” ấy không hoàn toàn do Đức Maria mà xuất ra. Bởi vì, trong quyền tự do, an bài và ban phát hồng ân, khi Thiên Chúa cho cái gì thì cái đó (vì là do chính Đấng Toàn Năng và Vô Biên ban cho) trở nên hoàn toàn của ta hơn hết.

Ơn huệ Người ban cho chúng ta càng lớn lao và càng lệ thuộc vào Người bao nhiêu (theo cách nói của con người) thì ơn đó lại càng thuộc quyền sở hữu của ta bấy nhiêu. Tất cả những gì do khách quan (không phải do Thiên Chúa) đem lại cho ta đều không thể nào thuộc về riêng ta được, nó không thể là bản thân ta hơn những gì mà Thiên Chúa vĩnh cửu ban cho ta. Cái gì Người ban cho ta thì thực sự nó thuộc hẳn về ta, trở nên chính bản thân của ta.

Chính vì vậy, một khi Thiên Chúa đã ban cho Đức Maria ơn khai mở thế giới này để đón nhận lòng thương xót của Người qua việc tự do ưng thuận làm Mẹ, thì lời “xin vâng” ấy chính là lời bộc phát từ chính con tim của Mẹ, và là hành động của chính bản thân Mẹ. Mẹ Maria chính là và luôn luôn là người Mẹ vì chúng ta và vì phần rỗi chúng ta. Như thế, vì chúng ta Mẹ đã nói lên lời “xin vâng”. Và do câu trả lời đó Lời Thiên Chúa đã trở nên xác thịt như chúng ta.

Việc làm Mẹ Thiên Chúa này vừa là ơn nhưng không của Thiên Chúa, vừa là một tác động của chính Đức Maria.

Vậy nếu việc làm Mẹ Thiên Chúa là một biến cố của lòng tin xuất phát từ chính bản thân Đức Maria thì biến cố ấy thuộc về lịch sử cứu độ. Do vậy, qua việc làm Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria thực sự đã có một mối liên hệ chặt chẽ với chúng ta là những kẻ sống trong lịch sử ấy, một lịch sử đã được định hướng rõ ràng nhờ vào tác động của Mẹ. Vì thế mà Mẹ được nhắc đến trong Kinh Tin Kính và được chúng ta tôn kính. Khi chúng ta mừng kính Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta không chỉ có ý tôn vinh một đặc ân riêng tư của Mẹ, một đặc ân mà vì dựa trên biên cố thể lý nên chỉ như một thứ danh dự pháp lý (bề ngoài). Và danh dự này chỉ diễn tả được sự kiện Chúa Giêsu có hai bản tính trong một Ngôi vị chứ không nói gì cho chúng ta về chính bản thân Đức Maria. Nhưng khi chúng ta nắm được ý nghĩa sâu xa của chức làm Mẹ Thiên Chúa, nghĩa là nhìn biến cố ấy bao trùm cả con người Đức Mẹ và nhìn nó trong nhãn giới của chương trình cứu chuộc, chúng ta sẽ thấy rằng chức làm Mẹ Thiên Chúa liên hệ chặt chẽ với chúng ta và Mẹ Maria thực sự là Mẹ chúng ta. Cho nên, chúng ta phải có bổn phận cùng với muôn thế hệ tôn vinh Mẹ, bởi vì điều mà chúng ta ca tụng, tôn vinh là: Người con của lòng đầy ơn phúc và chức làm Mẹ Thiên Chúa chính là phần rỗi của chúng ta.

Chúng ta sẽ không ngừng dâng lên Mẹ Maria tiếng reo mừng và biết ơn như bà Elizabeth xưa rằng: “bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến với tôi thế này?”. Và môi miệng ta sẽ luôn lập lại câu: “Mẹ thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với Mẹ”. Và chúng ta cũng thật là có phúc vì Mẹ đã tin. Mỗi khi nguyện rằng: “thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”, là chúng ta đang tuyên xưng chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria và chúng ta vững tâm sẽ nắm chắc phần rỗi muôn đời bởi vì Mẹ đã tin nhận Chúa Giêsu là Chúa và là phần rỗi muôn đời của chúng ta trong lòng tin, trong thân xác, trong linh hồn và trong trái tim Mẹ…Amen.

 

(theo Karl Rahner, Maria, Kẻ Đã Tin)

Lễ Mẹ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa 01/01/2012

Pax_man

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s