Sơ lược về lịch sử Giáo xứ Tân Độ và việc sửa chữa Nhà thờ Tân Độ nhân dịp Gx kỷ niêm 100 năm xây Nhà thờ

DCIM100MEDIADJI_0177.JPGPhần I: Sơ lược quá trình xây dựng Nhà thờ Tân Độ

  1. Giới thiệu làng Tân Độ và Giáo xứ Tân Độ:

Cùng với sự hình thành các làng mạc trong vùng đồng bằng bắc bộ, Làng Tân Độ (hay còn gọi là “Kẻ Nhầu”) được hình thành như một lẽ tất yếu của một làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Làng Tân Độ được hình thành trên một khu đất bằng phẳng, rộng rãi (xưa kia là bãi bồi) cạnh ngã ba của nhánh con sông Nhuệ, chảy ngoằn nghèo như một con rắn qua các làng quê trong vùng. Ban đầu Làng Tân Độ chỉ có một số nhóm các gia đình làm nghề chài lưới, đánh bắt cá trên sông ngày ngày cắm thuyền lên sống và nghỉ ngơi tại bãi đất. Sau này dần dần hình hành một làng với nghề nông nghiệp là chính.

Với lợi thế ven sông trên bến dưới thuyền, ngoài nghề nông nghiệp trồng lúa nước, dân Tân Độ còn có nghề đi thuyền và buôn bán khắp vùng, vì vậy, mới hình thành nên từ Kẻ chợ (tức dân buôn bán), minh chứng cho việc buôn bán phát triển là ngay giữa làng Tân Độ đã hình thành nên một cái chợ người ta gọi là “Chợ Nhầu”, ban đầu, Chợ Nhầu họp theo phiên để dân trong vùng kéo đến mua bán, trao đổi hàng hóa tấp nập trên một bến sông. Sau này, trong vùng hình thành nên một cái chợ lớn hơn đó là “Chợ Bóng” thì Chợ Nhầu vắng dần và ngày nay Chợ Nhầu chỉ còn được họp vào ngày 02 tết âm lịch tượng trưng cho sự mở đầu một năm làm ăn may mắn, phát tài, chính vì vậy, từ sáng sớm mùng 2 tết, dân trong vùng đã đổ về Chợ Nhầu người mua, kẻ bán nhộn nhịp mong tìm được vận may cho cả năm.

DCIM100MEDIADJI_0215.JPG

Về địa lý hành chính: làng Tân Độ nằm ở một vị trí đắc địa trong vùng, trên bến dưới thuyền. Tổng diện tích khoảng 40ha bao gồm phần đất dân cư sinh sống và đất nông nghiệp trồng lúa. phía Bắc giáp thôn Phù Bật, phía Đông giáp xóm Cầu thôn Hòa Mỹ, phía Tây giáp thôn Trình Viên, phía Nam giáp thôn Tri Chỉ. Những năm 1970 trở về trước, chung quanh làng Tân Độ đều có sông chảy qua đem lại cho làng một vẻ đẹp hiền hòa của một làng quê đẹp đẽ mà dù có bôn ba khắp nơi vẻ đẹp đó vẫn còn in đậm trong ký ức của con dân Tân Độ.

Về văn hóa, xã hội: Làng Tân Độ mang nét đặc trưng của các làng văn hóa đồng bằng bắc bộ, trước đây đều có Cây đa, Giếng nước, Đình làng. Do thuận lợi về hệ thống tưới tiêu và mặt bằng phẳng phù hợp cho trồng trọt và chăn nuôi, văn hóa trồng lúa nước là đặc trưng và cũng là nghề nghiệp chính của dân Tân Độ. Tuy nhiên, ngày nay việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sự chuyển đổi ngành kinh tế cũng đã tác động đến đời sống của dân làng Tân Độ, một số người đã không còn làm nghề nông mà chuyển sang làm thương gia, buôn bán hoặc các nghề khác phù hợp hơn.

Làng Tân Độ hiện nay xấp xỉ 2000 nhân khẩu với đặc trưng là dân số còn rất trẻ, từ xa xưa, hạt giống tin mừng đã gieo và phát triển, vì vậy ngày nay 100% dân số trong làng là người theo đạo Thiên Chúa. Sự phát triển dân số của làng Tân Độ là rất nhanh, trước năm 1954: Dân số làng Tân Độ khoảng 800 người, sau năm 1954, một nửa dân số của làng đã di cư vào Sài Gòn và các vùng khác để sinh sống. Tuy nhiên, sau những năm 1975, dân số làng Tân Độ phát triển nhanh, trung bình mỗi gia đình có khoảng 5 đến 6 người. Ngày nay, do điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội phát triển nên con em Tân Độ cũng được tạo điều kiện ăn học đầy đủ, có nhiều người học đại học. Với ơn Chúa ban đặc biệt kết hợp tố chất thông minh, sự cần cù, hiếu học, ngày nay, nhiều thanh niên, nam nữ đã đỗ các trường Đại học lớn và có những nghề nghiệp ổn định, có địa vị trong xã hội.

DCIM100MEDIADJI_0144.JPG

Về kinh tế: Từ những ngày đầu lập làng, dân làng Tân Độ đa số là làm nghề chài lưới, đánh bắt và trồng lúa nước, sau này một số gia đình chuyển sang làm nghề vận chuyển và buôn bán bằng thuyền. Từ những năm 1950 đến đầu thế kỷ 21, làng Tân Độ phát triển thịnh vượng với nghề nấu rượu cung cấp cho cả vùng, ở thời gian này, kinh tế của làng Tân Độ phát triển rất nhanh, dân làng có của ăn, của để, rồi người ta xây nhà, xây cửa, mua sắm đồ đạc đắt tiền, thời gian ấy, dân làng Tân Độ giàu có tiếng ở vùng quê Phú Xuyên.

Ngay từ những ngày đầu lập làng Tân Độ, con dân Tân Độ đã được đón nhận tin mừng của Chúa. Từ năm 1700, làng Tân Độ đã đón nhận tin mừng và trở thành họ đạo rồi phát triển thành Giáo xứ Tân Độ. Ơn Chúa ban cách đặc biệt, ngay cả trong thời kỳ khó khăn nhất của Giáo hội Việt Nam thì giáo xứ Tân Độ vẫn nhận được sự quan tâm của bề trên giáo hội. Minh chứng là kể từ khi hình thành giáo xứ Tân Độ, các cha xứ luôn được điều đến để coi sóc giáo dân để vun đắp đời sống đức tin cho tín hữu, dù còn nghèo, đời sống khó khăn nhưng với lòng yên mến Thiên Chúa, các bậc tiền nhân trong làng đã xây dựng được Nhà thờ giáo xứ Tân Độ khang trang, to, đẹp nhất vùng. Với truyền thống nề nếp, yêu mến Thiên Chúa, giáo dân trong giáo xứ rất ngoan đạo, chịu khó đi thờ, đi lễ, có lòng mến Chúa. Trong giai đoạn khó khăn, thiếu linh mục, giáo xứ không có Cha xứ, bà con giáo dân thường xuyên đi bộ, vượt qua hàng chục km để đi lễ tại nhà thờ Chuôn, Sơn Miêng, Kẻ Vác, Từ Châu …Ơn Chúa thương và cũng vì thấy giáo dân ngoan đạo, giáo xứ nằm trong vùng quê yên bình và thuần nông nên đã có thời gian cố đức Hồng Y Phao lô Phạm Đình Tụng chọn Giáo xứ làm nơi nghỉ ngơi dưỡng bệnh, đây là đặc ân, một vinh dự lớn của giáo dân Tân Độ.

Trải qua thời gian dài, các linh mục được giao coi sóc Giáo xứ Tân Độ kể từ năm 1822 đến nay gồm: Cha Phêrô Thi, Cha Phêrô Tuyên, Cố Gioan Tân (Paton-người Pháp), Cha Phêrô Loan (sau về xứ Từ Châu), Cha Maxime Viber (Cố Khanh-Pháp), Cha Phêrô Nhân (sau về xứ Vũ Điệu), Cha Giuse Bính, Cha Gioan Baotixita Tỉnh (sau về Kẻ Chuông), Cha Phanxicô Xavier Bằng (sau di cư vào Nam), Cha Phêrô Kỷ – chính xứ La Phù, Cha Phê rô Nguyễn Hữu Độ (người bản hương), Cha Phaolô Nguyễn Ngọc Chỉnh – chính xứ Hoàng Nguyên, Cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh- chính xứ Hà Thao, Cha Giuse Nguyễn Văn Tuyền – Xứ Lường Xá, Cha quản xứ: Luca Vũ Công Liêm – chính xứ Lường Xá, Cha phó xứ thường trực Giuse Ngụy Thành Khương, Cha phó xứ thường trực Giuse Nguyễn Văn Ngọc, Cha xứ Giuse Phạm Đức Văn.

Các hội đoàn: Hội Ông Thánh Gioan Kim; Hội Bà Thánh Anna; Hội Thánh Giuse; Hội Mân Côi; Hội Tông Đồ; Hội Thiếu Nhi Thánh Thể; Ca Đoàn; Hội các chị tu hội đời Thánh Tâm Chúa Giêsu; Hội Dòng Ba Phan-Sinh tại thế HDB Gioan Tân Độ; Hội Giới Trẻ Phan – Sinh;

Hiện nay trong giáo xứ có sự hiện diện của các Sơ Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh-Sơn đến ở, sinh hoạt và giúp đỡ Giáo xứ trong đời sống đức tin.

Tính đến nay, Giáo xứ Tân Độ đã có 25 linh mục (bao gồm cả các linh mục quê Tân Độ và các linh mục có gốc Tân Độ)

Các ơn gọi: 7 thầy đang học tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội (trong đó có 01 phó tế); 01 tu sĩ dòng Thánh Gia Long Xuyên; 03 nữ tu và 5 em đệ tử dòng Mến Thánh Giá Hà Nội; 02 đệ tử dòng Phaolô; 02 nữ tu dòng Mân Côi Saigon; 02 nữ tu dòng dòng Nữ Tử Bác ái; 01 nữ tu dòng Trinh Vương Thủ Đức; 02 chị thuộc tu hội đời Thánh Tâm.

  1. Về việc sửa chữa Nhà thờ giáo xứ Tân Độ:

Từ năm 1900, giáo xứ Tân Độ khi đó đã có đông đảo giáo dân, các gia đình làm ăn khá giả, thấy số giáo dân tăng ngày một đông, một số gia đình đóng thuyền lớn đi buôn, làm ruộng được trúng mùa, ăn tiêu còn dư. Nhà thờ khi đó cũng đã khang trang nhưng còn bé, dưới dự chăn dắt của Cố Khanh, quan viên, bô lão, chức sắc trong giáo xứ bàn nhau dự tính xây nhà thờ mới kiểu Tây cho rộng rãi để thờ phượng Thiên Chúa cho tôn nghiêm, sốt sáng.

Điều quan trọng nhất trong việc xây dựng nhà thờ làm các cụ trong làng băn khoăn là kinh phí xây dựng Nhà thờ lấy ở đâu. Mặc dù đời sống giáo dân trong giáo xứ đã khấm khá nhưng dân số còn ít (chỉ khoảng 140 gia đình với khoảng 360 nhân danh), tiền của dư giả không nhiều trong khi việc xây dựng cả một ngôi Nhà thờ to lớn là một việc hết sức hệ trọng và khó khăn. Nhưng với lòng mến Chúa và quyết tâm thực hiện, dân làng đã nghĩ ra nhiều cách để có kinh phí xây dựng nhà thờ, chẳng hạn như khi các gia đình có việc lớn như dựng vợ, gả chồng cho con cái hoặc nhà có đám tang hay việc hệ trọng khác, thay vì tổ chức mời hai họ, dân làng ăn uống linh đình thì nay các gia đình đó phải đóng tiền theo khoán lệ làm quỹ xây nhà thờ. Ngoài khoản thu từ các nguồn trên, dân làng còn có các khoản thu khác như quyên góp các hội bảo trợ, như hội Tư văn, hội Hương ẩm, hội Nhân Đinh ít nhiều tùy ý dâng cúng, thu tiền trên đầu các mẫu ruộng….

Tích tiểu thành đại, dần dần dân làng cũng có một khoản tiền lớn tuy chưa đủ nhưng giúp cha ông ta có thể bắt đầu xây dựng nhà thờ. Đến năm 1918, sau thời gian tích góp tiền, của, dân làng thu được số tiền khá lớn gửi Cố Khanh giữ, khi Cố về Pháp (để thực hiện nghĩa vụ đi lính) thì bàn giao số tiền cho Cha Nhân giữ. Về coi xứ được một năm, Cha Nhân thấy dân làng có quỹ lớn, sau khi viết thư sang Pháp xin ý kiến Cố Khanh về việc xây nhà thờ và được Cố Khanh đồng ý thì các cụ, dân làng đề nghị Cha Nhân trình với Cha Phượng ở Kẻ Trừ là Cha chính xứ xin phép Đức Cha Thịnh cho phép họ Tân Độ xây nhà thờ và sửa soạn mua gạch, gỗ lim để sẵn.

Ngày 8/9/1918, Đức Cha gửi thư về cho Cha Nhân, phê chuẩn cho phép họ Tân Độ xây nhà thờ và mong thời gian ngắn Đức Cha được về làm phép Khánh Thành nhà thờ, Ngài cũng vui mừng chúc lành và cho phép rỡ nhà thờ cũ và dọn lên trường học hát làm nhà thờ tạm. Sau khi được Đức Cha đồng ý cho xây nhà thờ, dân làng sung sướng, các cụ triệu tập Đại hội thảo 10 điều khoán lệ, toàn dân tiến cử 2 cụ Chánh Phó Quản Đốc tài vật sự vụ là Cụ Phó Trương Vũ Văn Hân làm Chánh quản đốc, cụ Hào Bùi văn Phòng làm phó Quản đốc. Chia các họ làm 4 giáp đạo gồm Đông, Tây, Nam và Bắc, 4 giáp này cứ 1 người lềnh phu phen lao động tạp dịch, và đề cử mỗi giáp một cụ phụ tá với 2 cụ quản đốc, Giáp Đông Cụ trùm Thiên, Giáp Tây cụ Bá Đê, Giáp Nam cụ Phó Kiệu, Giáp Bắc cụ Nhiêu Chi.

Về phần kiến trúc nhà thờ thì được Cha Nhân cho mời cụ Đốc Thân (quê ở xứ Hà Hồi) là kỹ sư xây dựng nhà thờ trong Giáo phận giúp đỡ phần thiết kế nhà thờ. Năm 1918, Cha Maxime Viber (còn gọi là “Cố Khanh) làm lễ khởi công xây dựng Nhà thờ, đến cuối năm 1919 (năm Khải Định thứ 4), đã xây xong móng và chân tháp thờ, đến năm 1925 (năm Khải Định thứ 10), móng nhà thờ và chân tháp đã làm xong được 5 năm mà vẫn an toàn không thấy nứt nẻ hay hư hỏng gì. Nhà thờ được xây dựng trên một khu đất rộng rãi, bằng phẳng gần đường giao thông và gần với nhánh của con sông Nhuệ hiền hòa chảy quanh năm mang lại nước và phù sa cho nhân dân trong vùng. Nhà thờ Giáo xứ Tân Độ hoàn thành năm 1935, Nhà thờ là công trình kiến trúc mang tính triết chung của một Nhà thờ Công giáo vùng bắc bộ với các nét đặc trưng bởi sự hòa trộn các phong cách kiến trúc nhà thờ Phương Tây, kết hợp với một số hoạt tiết mang tính dân tộc Việt thể hiện sự giao thoa giữa các nền văn hóa Đông – Tây nhưng nhờ sự khéo léo của kiến trúc sư, các nét kiến trúc vẫn dung hòa và tạo nên được một tổng thể kiến trúc hài hòa, nguy nga nhưng nhẹ nhàng, thanh lịch, có giá trị thẩm mỹ cao.

Mặt bằng nhà thờ được cấu trúc theo kiểu Basilica được chia thành 3 phần: Tiền sảnh rộng rãi, tiếp đó là khu vực dành cho giáo dân và kết thúc bởi Cung thánh. Mặt chính nhà thờ có bố cục đối xứng với hai tháp chuông có hình trụ nhô cao, phần giữa nổi bật với một lối vào hình cuốn vòm đột khởi lên trên, phần bên trong Nhà thờ được trang trí khá cầu kì với những cột mô phỏng thức Corinth đỡ một Fronton theo kiến trúc Phục Hưng, phía trên là những cửa sổ mô phỏng Gothique. Hai tháp chuông nhô cao với phần dưới có tiết diện hình vuông, phía trên thu lại, tứ phía tháp gồm cửa cuốn vòm được đỡ bởi các cột Corinth. Phía giữa hai tháp lớn là một tháp nhỏ có cuốn vòm trên có Thánh giá và ở giữa có tượng Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời (quan thầy của Giáo xứ Tân Độ). Bên trong và ngoài Nhà thờ được trang chí rất là công phu, có nhiều gờ chỉ, các cột gothir chạm hoa rất tinh vi, trên Cung thánh đặt nhà tòa trên tòa dưới và trung tâm là tòa đặt tượng Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời (quan thầy giáo xứ) đặt ở giữa. Trước mặt nhà thờ là khuôn viên vườn hoa và Giếng nước tạo nên một cảnh quan hài hòa, đẹp đẽ. Qua nhiều lần sửa chữa, vườn hoa và Giếng nước được sửa lại như ngày nay.

  1. Những lần sửa chữa Nhà thờ Tân Độ:

Đến đầu năm  1942, ba Cha đồng hương là cha Hiển, cha Độ, cha Tứ và ông bà Giacôbê Nguyễn Bá Tránh – người cùng quê ở Hà Nội muốn kỷ niệm cho dân làng một quả chuông Tây mua từ bên Pháp về. Quả chuông này được treo ở ngọn tháp phía bên nam và được Đức Cha Thịnh làm phép cuối năm 1942.

Đến năm 1976, sau giải phóng Miền Nam được một năm, giáo dân làng ta sinh sống và làm ăn ở Hà Nội khá giả, có 2 gia đình đã dâng cho làng một tượng Chúa Kitô Vua cao 4m, được đặt giữa vườn hoa trước nhà thờ (nay không còn nữa mà thay vào đó là bức tượng Trái Tim Chúa Giêsu bằng đồng, còn bức tượng kia đã được đem cho Giáo Xứ Đồng Chiêm) và một bàn thờ bằng gỗ quý.

Ngoài ra, vào năm 2002 giáo xứ đã nâng cấp bàn thờ và toà giảng bằng đá granit đỏ rất quý và ngày 11 tháng 08 năm 2003, Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng Tổng Giám Mục Hà Nội đã long trọng cung hiến bàn thờ và nhà thờ này

DCIM100MEDIADJI_0174.JPG

Phần II: Quá trình sửa Nhà thờ Tân Độ:

  1. Thực trạng Nhà thờ Tân Độ sau nhiều năm sử dụng

Với tuổi đời gần 100 năm, ngôi Nhà thờ Giáo xứ Tân Độ vẫn đứng hiên ngang, sừng sững giữa một vùng quê đồng bằng bắc bộ thanh bình. Ngày ngày vào các buổi sáng, trưa, chiều Nhà thờ vẫn vang lên những hồi chuông ngân vang kêu gọi đoàn chiên trong giáo xứ hướng về Nhà Chúa để dâng lời cầu nguyện và cũng là để nhắc nhớ bà con các thôn bên cạnh biết đã đến giờ thức giấc, giờ ăn trưa hoặc kết thúc ngày làm việc ngoài đồng, công xưởng để về nhà mỗi khi tiếng Chuông vang lên. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài thì là vậy, thực trạng Nhà thờ giáo xứ khi đã ở tuổi đời ngót ngét 100 tuổi thì đương nhiên có nhiều thứ đã không còn như khi xây dựng. Mái nhà thờ dù có nhiều lần sửa chữa nhưng vẫn xuống cấp, dột nặng, trong các trận mưa dông nguy cơ làm hỏng hết lớp trần laty phía trong Nhà thờ; các lớp vôi trát tường trong và ngoài nhà thờ qua thời gian đã bị nứt, rơi từng mảng trơ gạch bên trong; tường nhà thờ phía gần trân tháp bị nứt gãy ngang giữa thân nhà thờ và tháp do thay đổi địa chất; hệ thống cửa kính cũng bị nứt, vỡ nhiều nơi, các tháp chuông bị bong tróc vữa và các lớp trần bị dột nhiều. Ngoài ra, cảnh quan như đường chung quanh nhà thờ, Nhà xứ, vườn hoa cũng bị lún và xuống cấp trầm trọng, không còn mang vẻ đẹp, sạch sẽ khang trang như trước, nhiều hạng mục có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người nếu không được sửa chữa kịp thời.

  1. Sự cần thiết phải trùng tu trong nhà thờ Giáo xứ Tân Độ:

Nhận thấy sự xuống cấp trầm trọng của Nhà thờ giáo xứ, Cha giám quản Giuse đã nhiều lần tổ chức họp bàn với Hội đồng mục vụ và bà con trong giáo xứ để đưa ra phương án sửa chữa cho ổn thỏa với điều kiện của giáo xứ đặc biệt là điều kiện kinh tế, tài chính trong giáo xứ. Có rất nhiều sự bàn thảo được đưa ra như: sửa chữa toàn bộ nhà thờ bao gồm trong và ngoài nhà thờ (bao gồm cả cảnh quan) hay chỉ sửa những chỗ nào hư hỏng…

Có nhiều ý kiến rất đồng lòng với việc sửa nhà thờ nhưng lại băn khoăn là liệu sau khi sửa chữa thì các nét hoa văn, trạm khắc đẹp đẽ, những thiết kế ban đầu trong và ngoài nhà thờ có còn được như trước hay lại bị phá hỏng hết cả!. Có ý kiến tiêu cực hơn thì coi việc sửa chữa lại nhà thờ như là hành động phá đi những di sản mà Cha ông ta đã dầy công gây dựng…

Trước nhiều ý kiến trái chiều như vậy, Cha Giám quản phải làm sao đây! Với cương vị là một vị linh mục phụ trách trong giáo xứ, việc làm tròn bổn phận linh mục hàng ngày trong các thánh lễ, giờ kinh và các việc mục vụ khác là một chuyện. Việc hoàn thành trách nhiệm, trọng trách của người đứng đầu trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy những di sản mà các bậc tiền nhân trong Giáo xứ đã gây dựng và để lại cho con cháu ngày nay và sau này lại là gánh nặng và trọng trách khác của vị linh mục. Dù không sinh ra và lớn lên trong Giáo xứ, nhưng tài sản Nhà thờ là tài sản chung của Giáo Hội, của cả cộng đoàn dân Chúa, sửa nhà thờ đẹp đẽ cũng là làm đẹp và làm sáng danh Thiên Chúa, cũng là góp phần vào việc phát huy truyền thống gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất của Cha ông để lại cho con cháu.

Di sản lớn nhất mà các bậc tiền nhân để lại trong giáo xứ Tân Độ là Đức tin và Ngôi thánh đường giáo xứ, hai di sản này luôn tồn tại song hành cùng nhau. Vì vậy, việc giữ đức tin cũng cần lắm thay gìn giữ di sản văn hóa của Cha ông để lại, từ đó nó như là một thước đo cho sự vững bền về thời gian của hạt giống Đức tin trong lòng cộng đoàn, cũng là thước đo về trách nhiệm của con cháu với những gì Cha ông để lại, làm tốt việc giữ gìn di sản Cha ông để lại là việc làm thiết thực nhất của con cháu để thể hiện sự biết ơn đối với tiền nhân. Hơn nữa, đời sống Đức tin có tốt thì đời sống giáo dân trong xã hội dân sự mới tốt và ngược lại, đời sống xã hội dân sự phát triển, dân trí tăng lên, nhận thức tăng lên kéo theo nhận thức về đời sống Kito hữu của mỗi người tín hữu cũng tăng lên. Việc bảo tồn, gìn giữ ngôi nhà thờ khang trang, sạch đẹp nói lên phần nào đời sống đức tin của cộng đoàn nơi đó. Chính vì vậy, dù có nhiều ý kiến trái chiều, băng khoăn, trăn trở trong cộng đoàn như …

Trước khi sửa Nhà thờ, Cha Giuse Phạm Đức Văn – linh mục giám quản giáo xứ đã cùng với Hội đồng mục vụ và Ban Kiến thiết giáo xứ đã mời các kỹ sư, chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp về đánh giá hiện trạng từng hạng mục của Nhà thờ để đưa ra phương án trùng tu cho phù hợp. Ngoài ra, để không làm mất đi những kiến trúc nguyên gốc của hoa văn và đường nét trong và ngoài Nhà thờ. Các kỹ sư, kiến trúc sư đã chụp ảnh, vẽ lại chi tiết từng hoa văn, từng cụm hoa văn và tổ hợp kiến trúc trong vào ngoài nhà thờ để sau này thợ cứ đúng bản vẽ, kích thước, kiến trúc cũ mà phục chế, làm mới lại với hình dáng như nguyên gốc ban đầu.

Do kinh phí có hạn, trong khi hạng mục cần sửa chữa nhiều, có những hạng mục phải thay thế hoàn toàn nên phương án tối ưu và tiết kiệm nhất được lựa chọn là sửa toàn bộ những chỗ hư hỏng, xuống cấp, chỗ nào hỏng ít thì chỉ sửa chữa, chỗ nào hỏng nhiều thì thay thế. Riêng phần mái ngói thượng và hạ hai bên Nhà thờ thì thay mới hoàn toàn bằng ngói mới. Cạo toàn bộ các lớp vữa trong và ngoài Nhà thờ để chát lại; thay mới hoàn toàn các cửa kính, gác đàn, hệ thống chiếu sáng, âm thanh; sửa lại toàn bộ đường đi chung quanh nhà thờ, sân chầu…

Với khối lượng hạng mục công việc sửa chữa rất lớn nhưng với quyết tâm thực hiện tốt việc trùng tu ngôi thánh đường của Giáo xứ để gìn giữ những di sản của Cha ông để lại cho con cháu trong việc Thờ phượng Thiên Chúa, Cha giám quản cùng toàn thể cộng đoàn giáo xứ đã đồng lòng khởi công trùng tu ngôi thánh đường giáo xứ Tân Độ vào tháng 12/2015.

  1. Những hạng mục được trùng tu trong nhà thờ Giáo xứ Tân Độ:

Nhà thờ Giáo xứ Tân Độ – Tổng Giáo phận Hà Nội được xây dựng vào năm 1918 và là kiến trúc độc đáo, là tâm điểm của vùng quê đồng bằng chiêm chũng, hang năm thu hút đông đảo du khách trong vùng đến tham quan và dự lễ đặc biệt là ngày lễ Giáng Sinh. Sau 100 năm hoạt động, nhà thờ đã bị xuống cấp rất nhiều. tháng 12/2015, được sự đồng ý của Đức Hồng Y Phê rô Nguyễn Văn Nhơn – Tổng Giám mục Hà Nội, Cha giám quản Giuse Phạm Đức Văn đã chính thức cử hành Thánh lễ khởi công sửa chữa nhà thờ Giáo xứ Tân Độ với các hạng mục chính như:

  • Mái ngói:

Trong suốt lịch sử tồn tại, mái ngói của nhà thờ đã được sửa chữa, chống dột nhiều lần theo hướng hỏng đâu sửa đó. Hiện nay, các mái ngói thượng và mái hạ của nhà thờ chủ yếu được lợp bằng ngói Tây được cha ông ta nung từ đất, qua gần 100 năm tồn tại, nhiều viên ngói đã mục nát nên không thể che cho Nhà thờ khỏi những trận mưa to, gió lớn. Ngói lợp mái Nhà thờ được Cha ông ta làm thủ công và mua từ các xưởng nung bằng thủ công, ngày nay không còn làm nên các viên ngòi khác thay thế thường có kích thước, độ dầy khác hẳn so với ngói đang lợp nên việc thay thế chỉ mang tính tạm bợ, không đáp ứng được nhu cầu lâu dài. Chính vì vậy, cần phải thay thế hoàn toàn mái ngói đã già nua, xuống cấp để có một chiếc áo mới có thể chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của khí hậu đặc trưng miền bắc Việt Nam.

  • Hai tháp chuông:

Hai tháp chuông Nhà thờ Giáo xứ Tân Độ từ ngày xây dựng xong thì đã được ví như ngọn Hải Đăng trong vùng. Chỉ cần đi đâu nói đến địa chỉ Nhà thờ có hai tháp Chuông là người ta nói ngay đến Giáo xứ Tân Độ. Đã từ lâu, nhà cửa các vùng quê chưa được xây cao, vào những ngày lễ Noel, hai tháp chuông Nhà thờ được trang trí bong đèn điện từ trên xuống dưới tạo nên một ngọn tháp lung linh huyền ảo mà đứng tận dưới các thôn Trung Lập, Đồng Vàng vẫn nhìn thấy hai ngọn tháp sang rực nổi bật trên bầu trời báo hiệu Mùa Giáng sinh An Bình – Thánh Đức đã đến. Tháp Nhà thờ chỉ được xây dựng bằng kết cấu gạch và vôi vữa, không có xi măng, cốt thép nên trải qua 100 năm, phần vôi trát ngoài đã bị mòn, bong tróc, lở loét từng mảng trơ cả lớp gạch bên trong. Cần phải lóc lết ra để trát lại lớp áo mới cho hai ngọn tháp để có thể trụ vững với thời gian.

  • Giá đỡ bộ chuông hai bên tháp:

Hai quả chuông trên hai ngọn tháp Nhà thờ được ví như chiếc đồng hồ của cả vùng. Sáng sớm, ban trưa, chiều tối khi chuông vang lên là không những bà con trong Giáo xứ mà cả vùng lân cận với bán kính 3km đều nghe thấy tiếng Chuông nhà thờ khi vang lên báo hiệu các giờ kinh, giờ lễ đã đến. Hải quả chuông được đúc tận Bên Pháp và được các Cha đưa sang Việt Nam nên tiếng chuông khi đánh kêu ngân vang bing boong, bing boong khắp cả vùng quê yên bình. Với tên gọi dân gian là Chuông Ta và Chuông Tây, Chuông ta được treo bên tháp bên trái nhà thờ nhìn từ ngoài vào, Chuông Tây được treo trên tháp bên phải nhà thờ nhìn từ ngoài vào. Do được treo tận gần ngọn tháp, không được che nắng, mưa nên lâu ngày, các thanh gỗ lớn treo Chuông cũng có dấu hiệu bị mục, các gông sắt, nẹp sắt cũng bị han rỉ nên cần được sửa chữa kịp thời để có thể tải được các quả chuông nặng cả ngàn kg khi rung lắc.

  • Sửa bên ngoài và bên trong Nhà thờ:

Với vật liệu trát tường trong và ngoài Nhà thờ đều sử dụng vật liệu chính là vôi và các phụ gia khác như mật mía, muối, so với thời cha ông ta thì các vật liệu đó là tối ưu, nó mang lại sự chắc chắn và bền vững nhưng cũng rất tốn kém về tiền của. Nhưng với mục đích và mong muốn làm được ngôi thánh đường xứng tầm trong vùng và hơn cả là làm sang danh Chúa cũng như nhằm gìn giữ và duy trì hạt giống đức tin cho con cháu nên cha ông ta đã không tiếc tiền, của, công sức để tạo nên ngôi nhà thờ bề thế, ngui nga nhưng rất tinh xảo về hoa văn.

  • Sửa đường đi, sân chầu:

Khuôn viên nhà thờ Tân Độ tuy không rộng rãi nhưng rất đẹp, một trong những nét đẹp là sự đồng bộ trong kiến trúc Nhà thờ, Nhà xứ và cảnh quang cũng như hạ tầng gắn liền nhà thờ trong đó phải kể đến là đường đi chung quanh nhà thờ. Mặc dù việc xây dựng nhà thờ rất tốn kém, kinh phí có hạn nhưng Cha ông ta đã không tiếc tiền của, công sức để xây dựng một con đường chạy quanh nhà thờ với mặt cắt ngang rộng 5m, xây toàn bộ bằng gạch chỉ vỉa nghiêng nhìn rất đẹp nhưng không kém phần chắc chắn, bề vững. Trải qua hang trăm năm nhưng những viên gạch đỏ vẫn thể hiện được sự khuyến rũ của nó mặc dù có nhiều chỗ bị lún do cấu tạo địa tầng nhà thờ bị lún hoặc có nhiều chỗ bị xe vận tải nặng đè lên làm bong tróc, hỏng hóc cần được nâng cấp, sửa chữa lại cho khang trang.

  • Sửa toàn bộ hệ thống cửa kính:

Nhà thờ Tân Độ với lối kiến trúc Gothic có pha trộn các nét văn hóa Á đông, trong đó nổi trội là hệ thống cửa kính. Với kiến trúc Phương tây nên hệ thống cửa kính Nhà thờ được đặc biệt chú trọng trong kiến trúc, các cửa kính được mở dọc hai bên nhà thờ với mật độ dầy bao gồm cả trên (phần mái thượng nhà thờ) và dưới. Cửa kính được thiết kế theo hình vòm, toàn bộ kính là màu trắng nên mang lại cho Nhà thờ rất nhiều ánh sang và sự thoáng mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Thông qua hệ thống cửa kính, ngày xưa khi chưa có nhiều nhà cao tầng chung quanh nhà thờ thì từ đăng xa tận thôn Trình Viên hoặc ở ngoài cánh đồng, người ta đã nhìn thấy và biết được đang là giờ kinh sáng sớm hoặc chiều tối thông qua sự sang rực của các cửa kính nhà thờ. Theo thời gian, có nhiều chỗ cửa đã bị mọt, một số kính bị vỡ, nứt, ố vàng không còn sự trong veo của thủy tinh. Chính vì vậy, cần phải sửa chữa, thay thế đồng bộ trong dịp trung tu nhà thờ.

  1. Kính phí sửa Nhà thờ:

Việc cần thiết phải tính đến là kinh phí sửa nhà thờ sẽ lấy ở đâu? Thế rồi sau nhiều lần họp bàn, cân nhắc với sự soi sáng của Thiên Chúa, cộng đoàn giáo xứ đi đến quyết định sẽ bổ đầu trên mỗi nhân danh trong Giáo xứ, từ người già đến trẻ nhỏ, mỗi nhân danh sẽ nộp 1.000.000 đồng, việc thu kinh phí sẽ diễn ra làm hai đợt, nếu ai có điều kiện thì đóng làm một lần, gia đình nào không có điều kiện thì có thể đóng thành hai đợt tùy theo. Tuy nhiên, tổng số tiền thu được từ khoản đóng góp này cũng chỉ được khoảng 1,5 tỷ đồng, một con số còn rất nhỏ so với dự toán kinh phí cho việc sửa sang mất cả gần chục tỷ đồng.

Thế rồi ơn Chúa thu xếp, từ ngày Giáo xứ quyết định sửa nhà thờ thì tự nhiên lại có nhiều người công đức, dâng tiến của cải, công sức vào Nhà chúa. Danh sách những người dâng tiền, vật chất để sửa sang Nhà Chúa ngày một dài ra, người thì dăm, ba triệu, người thì vài ba, bốn năm trục triệu, người thì vài yến trà khô để thợ thuyền uống nước, tất thảy đều mong phụ giúp, đóng góp chút nhỏ bé vào việc chung. Có cả các Cha, các thầy, các sơ và mạnh thường quân dâng tiến tiền, của. Lại có cả hiệp Hội vận tải (những lái xe) bảo nhau cùng đóng góp tiền để dâng tiến dùng vào việc sửa sang Nhà thờ. Không chỉ giáo dân trong Giáo xứ, mà cả các Ông, Bà, Gia đình Đồng hương Tân Độ ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải ngoại biết tin cũng gửi tiền, vàng, ngoại tệ về dâng vào Nhà thờ để dùng vào việc sửa sang Ngôi Thánh Đường Giáo xứ. Lại có cả những người bên lương sống ở trong vùng nghe tin làng Tân Độ sửa nhà thờ cũng đã dâng những khoản tiền dù không phải là lớn nhưng thể hiện tấm lòng cao quý và sự quan tâm đặc biệt đối với cộng đoàn Giáo xứ Tân độ chúng ta.

Việc Chúa làm thật lạ lung thay! Việc sửa nhà thờ được rất nhiều bà con giáo dân, hội đoàn trong giáo xứ đóng góp, ủng hộ kinh phí. Hàng tuần, danh sách những ân nhân đóng góp cho việc xây dựng, sửa chữa Nhà thờ được công bố cứ dài ra. Người thì hai, ba trăm nghìn, người dăm triệu, mười triệu, hai mươi triệu, năm mươi triệu, lại có anh chị đồng hương ở Sài Gòn nặng lòng với quê hương đã dâng hơn 300 triệu đồng để sửa chữa Nhà thờ. Trong thánh lễ hang ngày, Cha Giám quản luôn nhắc nhớ mọi người nhớ cầu nguyện cho công việc trùng tu Ngôi Thánh đường và cầu nguyện cho những Người đã góp công, góp của vào việc trùng tu nhà Chúa. Chính nhờ sự nhiệt tình trước hết là của bà con giáo dân trong giáo xứ đã không tiếc công mà hang ngày vào phục vụ việc sửa chữa Nhà thờ, lại còn đóng góp, dâng tiến tiền của, vật chất để sửa chữa Nhà thờ. Ngoài ra, không thể không kể đến những bà con đồng hương Tân Độ ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Ngoại đã đem tâm và nhớ đến quê hương để dâng tiền, vật chất về sửa Nhà thờ. Còn nữa những người bà con lương giáo xa gần, các thôn và địa phương lân cận biết tin giáo xứ sửa nhà thờ cũng đã dâng tiền, của cải để giáo xứ sửa nhà thờ. Thật đang tụng ca Thiên Chúa biết bao vì việc Ngài làm thật cao cả và vượt quá tầm hiểu biết của con người. Cảm ơn tất cả ông bà và anh chị em, các vị ân nhân trong và ngoài giáo xứ đã đóng góp, dâng tiền, của vào việc sửa sang nhà chúa. Ơn Chúa qua những vị ân nhân mà giáo xứ chúng ta có kinh phí sửa chữa nhà thờ theo đúng kế hoạch, tiến độ như bà con hằng mong muốn khi lên kế hoạch sửa chữa nhà thờ.

  1. Phân công thực hiện sửa Nhà thờ:

Hàng ngày ngoài những thợ chính có tay nghề thuê từ Hà Nam lên thi công, công tác phục vụ sửa chữa Nhà thờ được phân công như sau: Mỗi gia đình phải đóng góp công lao động vào phục vụ theo sự sắp xếp của các ông Trưởng xóm Nam, xóm Giữa và xóm Đông, đảm bảo đủ nhân công luân phiên phục vụ đáp ứng nhu cầu công việc. Gia đình nào không có người thì sẽ đóng tiền thay cho nhân công. Phân công là thế nhưng hàng ngày người ta thấy số lượng người phục vụ ngày một đông hơn, đó là do một số cụ trong hội Gioan Kim, hội AnNa, các chị hội Mân Côi, các anh hội Gia Trưởng, Giới trẻ dù không phải ngày mình phục vụ nhưng vẫn vào làm việc với thái độ và ý nghĩ đóng góp xây dựng Nhà Chúa và làm cho Chúa thì không kể công xá, thời gian, giờ giấc gì! Thật đúng là những ý nghĩ và hành động đáng quý và trân trọng biết bao.

Tạ ơn Chúa, sau gần 3 năm trung tu, đến nay việc sửa chữa, trung tu Nhà thờ đã hoàn thành, các hạng mục được sửa chữa đã trở lại đẹp đẽ nhưng vẫn giữ được từng chi tiết, đường nét và kiến trúc như xưa, các hạng mục thay thế, sửa mới thì được làm đẹp hơn tạo nên một ngôi nhà thờ khang trang, đẹp đẽ uy nghi từ trong ra ngoài nhằm làm sáng danh Thiên Chúa và cũng là để tiếp tục gìn giữ, phát huy những di sản của cha ông để lại cho con cháu như là một minh chứng của hạt giống đức tin mà Chúa đã gieo vãi vào dân làng ta.

Giờ đây, sau một thời gian gần 2 năm cử hành Thánh lễ và việc thờ phượng Chúa tại Nhà đa năng, giáo dân đã dọn lên Nhà thờ mới sửa, được trở lại bên trong ngôi nhà thờ thân quen nhưng sạch sẽ, đẹp đẽ hơn giúp cho tâm hồn từng tín hữu được nâng lên như gần Chúa hơn. Hoàn thành việc trùng tu ngôi thánh đường cũng là một minh chứng về đức tin của cộng đoàn giáo xứ vào sự quan phòng của Thiên Chúa, tin và tín thác mọi sự cho Thiên Chúa và Đức trinh nữ Maria hồn xác lên trời đã giúp công đoàn có một sức mạnh phi thường mà ở đó người ta nhận thấy ở mỗi người tín hữu một lòng mến nồng nàn, đức tin vững vàng, đức cậy tuyệt đối để làm nên những điều tuyệt vời trong ơn Chúa.

Cha giám quản Giuse, Hội đồng giáo xứ và Cộng đoàn giáo xứ Tân Độ xin cảm ơn quý Cha, Quý cố, Quý Sơ, Quý thầy, Quý vị ân nhân, thân nhân và bà con tín hữu trong giáo xứ, bà con các tôn giáo bạn, bà con Đồng hương Tân Độ tại Hà Nội, Sài gòn, Hải Ngoại đã yêu thương, luôn nhớ đến quê hương mà đã góp công, góp của để góp phần vào việc hoàn thành sửa chữa nhà thờ của giáo xứ. Xin Chúa và Mẹ Maria Hồn xác lên trời tuôn đổ muôn hồng ân xuống trên Quý vị và gia đình.

DCIM100MEDIADJI_0215.JPGDCIM100MEDIADJI_0193.JPGDCIM100MEDIADJI_0183.JPGDCIM100MEDIADJI_0177.JPGDCIM100MEDIADJI_0174.JPGDCIM100MEDIADJI_0151.JPGDCIM100MEDIADJI_0147.JPGDCIM100MEDIADJI_0144.JPGDCIM100MEDIADJI_0140.JPGIMG_4403

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: